Đăng bởi: Tịnh Tâm | 7 Tháng Mười, 2007

Pháp Môn Tu Tắt – HT.Thích Giác Nhiên

Kiếp con người sống gởi thác về. Ai cũng vậy. Gọi là “sinh ký tử quy”, Sống gởi thác về. Đời người là như vậỵ Tất cả mọi người đều như vậy. Đức Phật cũng vậy, phải đọa cái xác thân tứ đại giả hợp này.
“Cuộc đời có hợp không tan.
Thì đâu có sự bẽ bàng thế ni!
Cuộc đời có hợp không ly,
Thì đâu có nỗi sầu bi đoạn-trường!”
Thật như vậy! Tất cả mọi loài mọi vật đều phải thay đổi theo thời-gian, biến-dịch của vô-thường, là thành trụ hoại không, hay là sinh, trụ, dị, diệt. Còn thây con người của chúng ta đây là sanh, lão, bệnh, tử. Tử chưa phải là hết, mà chỉ thay đổi kiếp sống của con người thôi. Rồi sanh trở lại, tử nữa. Tử rồi sanh nữạ sanh tử trong bánh xe tam-đồ, lục-đạo, kiếp này đời nọ, mãi mãi hoài hoài.
Sự sanh tử nào có chi đâu khác lạ, cũng như người tài-xế mà lái chiếc xe, chiếc xe tung hư, mục nát bỏ đi, nhưng người tài-xế vẫn còn. Cũng như chiếc xe thầy, thầy lái đó, bữa nay là nó hư rồi, có thể đem bỏ nó thành sắt vụn, nấu thành nước, đổ lại chiếc khác. Nhưng mà thầy tài-xế vẫn còn. Qua đây thầy lái được tám chiếc xe hơi rồi, ở tại Mỹ. Từ ngày qua Mỹ đến nay thầy lái được tám chiếc, tám lần thay đổi xe hơi, nhưng ông Giác-nhiên vẫn còn sống nhăn; mà có thể thầy còn lái nhiều chiếc nữa! Đó là nói ít đó, chớ có người, quý Phật-tử biết, qua đây một ngày họ lái hai, ba chiếc xe hơi, thay đổi như vậy!
Chiếc xe là vật vô-tri vô-giác; sắc thể con người của mình tứ-đại giả-hợp, vô-thường, cấu tạo rồi tan rã; mà cần cái tâm linh của mình, cho nên tu là như vậy. Người đời không biết, nghĩ tưởng rằng: “Dại gì tu, khổ quá; tu chi cho cực vậy! Nhứt là qua cái xứ văn-minh vật-chất này, đầy dẫy tự-hưởng, sung sướng vô cùng, là thần tiên tại thế, tu gì nữa! Tu là Việt-nam khổ sở, chiến-tranh giặc-giã, vái trời lạy Phật, cầu khẩn thánh-thần, ráng lo tu! Chớ còn qua bên đây sướng quá, còn lo tu gì nữa!” Nhưng thưa quý vị, không có sướng!
Thiệt, cũng có người thụ hưởng là sướng vậy! Nhưng mà có sướng với xác thân vật-chất tạm-bợ, nó đâu có vĩnh-viễn? Và cái sướng đó, chỉ là an ủi trong một chốc lát rồi thôi, mà sự đau khổ nhiều hơn. Bởi vì, cõi Ta-bà mà, dầu xứ nào, quốc-gia nào, đất nước nào, dân-tộc nào may mắn, một xứ nào đầy đủ vật chất, đời sống tiện-nghi, cũng như các xứ văn-minh Á, Âu-châu hay là Mỹ-châu đây chẳng hạn. May mắn là được nhiều cái vật chất, cơ-giới văn-minh, khoa-học kỹ-nghệ phát-triển mạnh, giúp đỡ cho con người thụ-hưởng vật-chất một phần nào thôi. Nhưng vẫn là khổ đau chớ, là vì cõi Ta-bà mà! Nên có câu nói rằng:
“Ta-bà khổ, Ta-bà khổ!
Tịnh-độ vui, Tinh-độ nhàn vui!
Sống trong trần tục lấp vùi
Một cười mười khóc, mà vui nỗi gì!”
Tuy nói vui, nhưng sự thiệt có một phần cười, mười phần khóc. Quý vị không biết có chứng-kiến được trường-hợp đó không? Chớ thầy có đi cầu-siêu nhiều đám và thầy có chứng-kiến được nhiều trường-hợp như vậy. Qua bên đây người ta cũng khổ lắm nghen, tự vận chết cũng nhiều lắm đó!
Quý vị biết có nhiều gia-đình ở Việt-nam đầm ấm hạnh-phúc hết sức mà qua bên đây tan nát đổ vỡ; như hôm thầy đi thuyết-pháp ở tiểu-bang … ông đó ổng giàu lắm, cơ-sở ổng có thể giàu cả triệu bạc lận, mà ổng buồn ổng khóc, ổng than với người bạn; bởi vì người bạn gia-đình đầm ấm hạnh-phúc quá, con cái dạy dỗ nên thân nên phận, học hành nên danh thành phận; còn ông ta có năm đứa con, ổng giàu có cửa tiệm, hai ba cái, nhà, sự nghiệp ổng trên cả triệu đô-la, nhưng ổng than, ổng nói rằng con ổng chết hết rồi (thiệt ra còn sống nhăn, không có chết, nhưng mà chết rồi, là vì bây giờ con ổng tan nát hết), nó theo bụi đời, hư hỏng hết, không học hành nên danh phận gì hết, và không còn ở với ổng, nó đi lang thang khắp nơi. Ổng giàu như vậy, có điều như vậy để làm gì? Nếu ổng biết vậy, thì hồi đó ổng đâu có đi làm chi tạo ra cơ nghiệp, tiền bạc thì có, cơ-sở thì có, tiệm tùng thì có, nhưng bây giờ con ổng chết hết rồi (chưa có chết, còn sống, nhưng bây giờ nó hư hỏng hết rồi). Cuộc đời nó tan nát, nó ghiền xì-ke ma túy, nó theo bụi đời, nó đi ăn cướp ăn trộm; đứa thì tù tội, đứa thì trốn chui trốn nhũi. Nghĩ vậy, dầu có tiền của nhiều như vậy, có gì hạnh-phúc đâu!
Đó là lấy một thíđụ trong muôn ngàn triệu tỷ tỷ cái sự đau khổ của nhân-loại trên mặt đất này. Vì vậy nên cõi thế-gian này được gọi là cõi Ta-bà, là bể khổ. Chứ đừng tưởng rằng giàu có vật chất mà không khổ. Giàu có thì khổ theo giàu có; nghèo hèn, tù-tội thì khổ theo nghèo tội, đê hèn, hạng bậc nào cũng khổ!
Đừng nói chi, mình mang thân tứ-đại này là khổ rồi! Sanh, già, đau, bệnh, chết đủ thứ. Mấy cậu, mấy cô còn trẻ tuổi từ mười tám, hai mươi, ba mươi tuổi trở lại, nghe thấy mạnh khỏe như voi, ăn uống ngon, làm cái gì cũng thấy sung sướng, thụ-hưởng, thấy mình sống vậy là ngon lành há. Nhưng mà thêm ít tuổi nữa đi, rồi thân hình tiều tụy, da nhăn, mặt nám, chân mỏi, gối dùn, bệnh hoạn ốm đau. Nội hàm răng của mình, mà có người bị hàm răng hành đau mà khổ, nghĩa là ăn uống không được, nhức cái răng chớ đừng nói gì! Nội cái răng mình mà nó thay hai lần; là quý vị thấy nó khổ bực nào không? Thầy đây nè, cái răng cấm của thầy, hồi đó giờ răng thầy cứng lắm, răng thầy mà dây điện, thầy làm biếng lấy dao, thầy cắn nó đứt, nghiến nó đứt, mạnh lắm; nhưng hồi quãng bốn chục tuổi, thầy mới thay răng, mà gọi là mọc răng cấm – răng khôn đó – mà nó dại chớ khôn à! Nó hành mình đau muốn chết mà khôn gì! Nó hành thầy đau đến nỗi thầy đi mổ nó ra, mổ nó đi cho rồi! Nó không mọc lên lẹ; nó nhú lên chút xíu vầy, nhích một chút; lâu lâu nóng trong người, nhích một chút, nó đau, nó sưng lên; nó hành mình đau quá, thôi nhổ quăng quách đi cho rồi, để chi nó hành cho khổ! Ta gọi là răng khôn đó, mà thầy đặt nó là răng dại, nó khôn thì nó đừng có đau nhức người ta mới để nó yên thân chớ, đàng này nó đau nhức hoài; nhổ nó quăng, còn gì nói là khôn! Thành ra khi nào quý bà con mọc răng dại là khổ lắm, nó hành mình đau lắm.
Rồi phải có một cái răng đó thôi sao! Cả hàm răng băm hai cái, quý Phật-tử biết mỗi một cái nó đau nhức nó hành mình đủ thứ; rồi hỏi ông vua ổng có khỏi nhức răng không? Mặc dù giàu sang phú quý, ông thủ-tướng, ông bộ trưởng, thí dụ ổng có tiền bạc, vật chất đầy đủ, nhà lầu, xe hơi, vợ đẹp, con khôn, rồi đó, nhưng mà hàm răng ổng đau, có thể vợ con, tiền bạc thế chịu được không? Thành ra đừng nói chi, hạng bậc nào hễ mang xác thân rồi thì phải khổ. Bởi thế cho nên đức Lão-tử, ngài có nói rằng:
“Ngô hữu đại hoạn vi ngô hữu thân
Nhược ngô vô thân hà hữu vi hoạn”
Nghĩa là “ta mắc cái hoạn lớn trên cõi đời này là vì có cái thân này, nếu con người không có cái thân này, không có cái nạn khổ chi”. Cho nên thân này là một cái nạn khổ, nhưng mà chẳng những khổ cái thân sống hành hạ đau rồi thôi, còn chết nũa là “tử biệt sanh ly” thật đúng như vậy
“Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt
Phu thê nghĩa trọng giả phân ly
Nhơn tình tựa thể đồng lâm túc
Đại hạn lai thời đáo tự phi”
Nghĩa là:
Hỡi ơi, cha mẹ ơn sâu rồi cũng có ngày cách biệt.
Vợ chồng tuy nghĩa nặng rồi cũng có lúc chia lìa.
Nhơn tình tựa thể chim đang ngủ
Mạnh sáng con nào nấy bay đi.
Đời là thế! Thế-gian là thế, chỉ có thế thôi!
Chúng ta vì chưa ý thức giác ngộ, sự vô-thường của cuộc đời tạm bợ giả tạm này, chúng ta nghĩ rằng sống là phải thụ-hưởng, sống để lo tiền bạc vật chất, sống để lo tạo cơ sở, sự-nghiệp cho con, cho cháu, cho chắt chít mình; nhưng chúng ta quên rằng kiếp sống con người chỉ một hơi thở thật dài; ngắn ngủi lắm, nhanh chóng lắm, và mau lẹ lắm!
Trong kinh Tứ thập nhị chương, có một đoạn Đức Phật hỏi các chú đồ đệ của Ngài:
“Đời người sống bao lâu, các con có biết không?”
Có một vị tỳ-kheo bạch rằng:
“Bạch Đức Thế-tôn, đời người sống sáu mươi tuổi”, thường thường nói sáu mươi tuổi, nói vậy chớ một trăm, người ta nói đời người trăm tuổi, kêu là: “nhơn sanh bách tuế duy kỳ” tức là người ta sống trăm tuổi là cùng! Nói một trăm, chớ thầy thấy có người thiệt sống một trăm hai mươi tuổi; mà sống chi khổ quá, lẫn lộn, nhà có nắng rọi vô, tối ngày xách rổ lượm hột vịt, lượm hột vịt bỏ vô rổ. Con cháu cho ăn cơm rồi trở lại hỏi:
“Ông ăn cơm chưa?” Nói:
“Thôi, nó không cho tao ăn, nó bỏ đói tao cả ngày vậy đó”.
Con cháu đã cho ăn, mà lẫn mà! Thành ra nói với bà con, sống nhiều tuổi vậy có thích không?
Cho nên, thường thường tết, bà con về, nói:
“Chúc cho Hòa-thượng sống trăm tuổi, hai trăm tuổi!”
Thầy nghe nói thầy giận lắm nghe! Muốn cho thầy khổ hả? Muốn cho thầy khổ cả trăm năm hả? Sống chi sống nhiều khổ phải không? “Đa thọ đa nhục” mà! Nghĩa là tuổi càng sống nhiều chừng nào, càng nhục nhã chừng ấy.
Quý Phật-tử nói thì nghe nó kỳ, mà nói thì bằng sự thật, thầy thì nói thẳng, nói thiệt cho nghe chớ, nói toạt móng heo, chớ dấu diếm vòng vo chi nữa! Già rồi, lẫn lộn. Ăn uống lều khều, dính tùm lum. Con cháu nhiều khi nó lấy đồ nó che ở đi nữa, rồi ỉa trây, đái dầm. Ăn dơ ăn dáy. Thử hỏi sống làm chi, nói tầm bậy tầm bạ, con cháu nó buồn nó giận. Thành ra cho nên nói thiệt mà nghe, thầy thường nói từ sáu chục tuổi trở lên mà chết thì phải rồi, được rồi. Thầy có biết rồi, nó nhức mỏi, nó ê ẩm, nó uể oải, nó bần thần, nó dã dượi, không có sướng gì hết trơn trọi!
Đó là nói thiệt tình, vì vậy cho nên, chết mình đừng có buồn. Cha mẹ già tuổi chết rồi, có người bảy, tám chục tuổi chết còn tiếc. Tiếc làm chi? Chiếc xe cũ rích nó hành hạ ông tài xế thấu trời. Thầy đây, có lần nó bỏ ở ngoài highway, quý Phật-tử có biết không, mình thì khổ sở đủ thứ, máy móc không rành, đi đứng không biết làm sao, bỏ ở ngoài highway ở ngoải, nó hư nó “pan” đó thành ra khổ, chiếc xe mà cũ rích thì nó hành hạ ông tài xế; thân mình mà lớn rồi nó hành hạ tâm-hồn lắm. Cho nên già thì phải chết. “Sinh ký tử qui” sống gởi thác về mà. Vì vậy cho nên già lớn tuổi thì chết, là bỏ cái xác thân không có gì đáng tiếc. Nhưng có điều, sống đời biết tu hành hay không, biết đạo đức hay không, biết tạo phúc đức hay không; vì con người ai cũng chết, nhưng chết đem theo được có hai điều: tội và phước. Mà hễ tội thì đọa, phước thì được siêu, gọi là:
Thăng thặng trược giáng. Cũng như quý vị thấy đốt trên bàn Phật những nén hương, khói nhẹ bay lên tro tàn rớt xuống.
Con người mình sống đời hung ác, ngang tàng, bất hiếu, bất nghĩa, bất lương, vô đạo, vong ân chết rồi bị đọa xuống. Còn sống đời ăn hiền, ở lành, tu nhơn, tích đức, hiếu thảo, hiền từ, ân nghĩa thì chết rồi, nhưng mà tâm hồn vẫn được siêu thoát.
Thể xác vùi sâu ba tất đất
Thanh danh lừng lẫy bốn phương trời
Mặc dầu, tuy thân chết là thay đổi, không có gì đáng tiếc hết, nhưng có tiếc chăng là có biết tu hành hay không? Có biết đạo-đức hay không? Con người sống có ích lợi gì cho ai không?
Mình có biết đền ơn cha mẹ sinh thành dưỡng-dục chín tháng cưu-mang, ba năm bồng ẵm, bú sữa sú cơm, công lao cực khổ hay không? Hay sanh ra những đứa con ngỗ-nghịch, bất hiếu, làm cha mẹ phải khổ đau, thì mình chỉ tiếc những đứa con không biết bổn phận, không làm tròn nhiệm vụ!
Sanh ra làm con người cũng vậy, đâu phải mình chỉ thọ ơn cha mẹ không, mà còn ơn vua chúa, của quốc vương thủy-thổ, ơn của tín chủ, bá-tánh, cư-gia, ơn thầy, nghĩa bạn, nói chung là chúng-sanh, ơn đó vô cùng tận; và cái ơn ít có khi nghĩ tưởng – cái ơn lớn hơn ơn của cha mẹ – là cái ơn của các loài thú vật đã hy-sinh thân mạng để nuôi mình. Mình mà to tát thế này, ăn bao nhiêu chục tấn sinh-mạng, súc vật chết biết bao nhiêu muôn ngàn triệu sinh-mạng mà nuôi mình. Nó đã hy sinh thân mạng nó nuôi mình, mình nghĩ đến cái ơn đó lớn lắm, chớ không phải nhỏ đâu, mặc dù mình biết hay không, chứ nó vẫn là cái ơn lớn, mà không phải một kiếp một đời. Mình có đây là mình đã trải qua nhiều kiếp đời lắm lắm. Cho nên mình thọ ơn chúng-sinh từ vô-thủy đến nay không thể nói cho cùng tận được. Mình hôm nay mà biết khôn, biết đạo đức, biết thương người mến vật, biết hiếu thảo đạo nghĩa, không phải là mới tiến-hóa một kiếp đâu, mà mình tiến-hóa, đã trải qua nhiều kiếp đời lắm rồi. Hôm nay mình được thế này là mình thọ ơn chúng-sinh quá sức nhiều; cho nên mình phải nghĩ rằng, tất cả chúng-sinh là cha mẹ của mình. Nếu nghĩ như vậy, bao giờ mình lại làm đau khổ chúng-sinh? Mình làm phiền lụy đến một chúng-sinh nào, mình làm khổ nhọc một chúng-sinh nào đó tức là mình làm khổ nhọc ông bà cha mẹ cửu-huyền thất-tổ của mình.
Thì bây giờ, mình phải tìm phương hóa độ. Nhưng mình không đủ tài năng đức độ, không đủ cơ duyên, phương-tiện, bất cứ vị nào có đủ phương-tiện cơ duyên hóa-độ mình trợ duyên giúp sức, dầu ai độ được chúng-sinh nào mà giác ngộ là quý vị nhổ được cái gai trong cõi đời. Cứu một linh-căn khỏi trầm kha đắm đọa, vớt được một người là chính cửu-huyền thất-tổ, ông bà cha mẹ của mình khỏi trầm trong biển sanh tử luân-hồi. Như vậy thì bổn-phận con người phải hiếu thảo, mà muốn đạt hiếu thảo đó, thì bây giờ phải làm thế nào? Làm thế nào để đền ơn sanh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ cửu-huyền thất-tổ của mình, thì trong kinh Phật dạy rằng: “Hiếu hạnh vi Phật hạnh”, cái hạnh hiếu thảo là cái hạnh của người con Phật, mà chính Đức Phật trọn đời của Ngài cũng là bậc chí hiếu mà. Nên có bài thơ nói ràng:
Phật xưa hiếu thảo kể Hằng-sa
Đến kiếp hiện nay cũng đậm đà
Đao-lợi vương cung về viếng mẹ
Ca-tỳ-la-vệ đến tìm cha
Khom lưng đảnh lễ đồi sương trắng
Đưa mặt cho hôn một mẫu già
Đến chết chim hoang còn bật mắt
So cùng hiếu tử mấy người qua!
Thật ra trọn đời Đức Phật là bậc chí hiếu. Thế thường người ta nghĩ rằng, con đi tu bỏ cha mẹ là bất hiếu. Rồi có người lại nói rằng: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa” Vậy là phải tu cha mẹ. Nếu người nào bỏ cha mẹ đi tu là bất hiếu. Rồi họ lại nói câu là: “Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại.” Là phải sanh con cháu nối dõi tông-đường, nối dòng, nối dõi mới là có hiếu, chớ còn không sinh con, mấy ông thầy tu, mấy bà ni cô trường chay, cắt ái ly gia, có con có vợ gì mà báo hiếu?
Cho nên họ gài, họ nói là bất hiếu. Thành ra người ta giải tầm bậy tầm bạ, người ta không biết cái đạo, và không thấu được cái chân-lý. Mấy câu đó người ta đặt ra, người ta nói vậy chớ mình hiểu cái lý của nó, nói vậy cũng trúng nữa nhưng mà trúng trong trường-hợp nào họ giảng sai; họ nói cách này họ giảng cách khác thành ra trật.
Bây giờ, thầy nói sơ cho quý bà con nghe – có nhiều người biết chớ không phải là không – nhưng khi nào quý bà con nghe người ta nói, mình nói lại cho người ta biết, chớ nhiều khi người ta hiểu lầm. Nếu nói bỏ cha mẹ đi tu là bất-hiếu thì Sĩ-đạt-ta làm sao thành-đạt, thành Phật, thành Phật tổ, thành Phật Như-lai? Rồi nói Phật đã sanh được La-hầu-la rồi Phật mới đi tu, thì cũng có La-hầu-la nối dòng; cho nên Phật đi tu bởi vậy không bất-hiếu, chớ ổng còn trẻ đi tu là ổng bất-hiếu, thì sanh La-hầu-la mới chín tuổi, Phật cũng đưa đi tu, cũng thành tổ nữa! À, như vậy thì không phải rồi!
Như vậy, đi tu là bậc đại-hiếu, là bậc toàn-hiếu, chứ không phải đại-hiếu nữa.
Bây giờ, Thầy phân-tích ra để quý bà con nghe này:
Cái hiếu nó có nhiều bậc, cũng như học nó có nhiều lớp, từ tiểu-học, trung-học, đại-học, cao học, toàn học. Cái hiếu nó cũng vậy, tiểu-học là sơ sơ, cũng như bây giờ người ta lo cho gia-đình vậy, lo cho cha mẹ anh em phụng-dưỡng thế nào đó suốt cả cuộc đời của mình, dù là lóc thịt mà nuôi cha mẹ. thí dụ ở đó suốt đời mà nuôi cha mẹ thì đó cũng là tiểu-hiếu mà thôi. Cái hiếu nhỏ, hiếu của gia-đình bé tí tẻo teo, cỏn con, chật hẹp. Hiếu đó không gọi là hiếu lớn được.
Người nào mà lo cho xã-hội, lo cho việc xây-dựng một đất nước được thịnh-vượng, phú cường, một dân-tộc được giàu mạnh, cả mọi người được thụ-hưởng an lành, trong đó có gia-đình của mình; đó là bậc trung-hiếu. Tại sao vậy? Người ta thường gọi là trung quân ái quốc, hiếu thảo cha mẹ mình là lo cho việc đất nước, quốc gia xã hội mình, mà cả gia-đình mình cũng thụ-hưởng an lành, hạnh phúc an vui, đó là bậc trung-hiếu.
Hiếu lớn hơn nữa là lo cho loài người, như các tổ chức Liên-hiệp-quốc chẳng hạn, chẳng những lo cho một đất nước quốc gia của mình, mà làm sao đem lại sự công bằng, sự hạnh-phúc yên vui cho tất cả toàn dân trên thế giới, mọi người trên trái đất này. Những người nào mà lo cho cả loài người được rộng rãi như các bậc Bồ-tát vậy, các bậc đó được gọi là Bồ-tát đó, là lợi tha, không những riêng cho dân-tộc của mình, không bênh vực cho một dân-tộc của mình, không xây-dựng đào tạo an vui cho chỉ một đất nước mình, mà lo cả cho nhân-loại, cả loài người, lo chung cho tất cả mọi người trên thế-gian này, bậc đó gọi là bậc đại-hiếu. Cũng như Mục-kiền-liên hồi xưa gọi là đại-hiếu Mục-kiền-liên.
Nhưng mà Phật, Bồ-tát là lo hơn nữa, không những lo cho loài người quý vị thấy; như cường-quốc, các đất nước mạnh giàu mặc dù họ lo cho đầu này, đầu nọ, đầu kia, chứ thật ra là họ phải nghĩ đến quyền-lợi đất nước, dân-tộc họ; họ tốt nhưng mà họ cũng có cái lợi, chứ không phải là hy-sinh trọn vẹn, như là Phật hay là Bồ-tát, mà còn lo cho cả chúng-sanh (chúng-sanh là gồm cả bốn loại: noãn-sinh, thấp-sanh, hóa-sinh, và thai-sinh). Noãn-sinh là loài đẻ trứng, thấp-sinh là loài ẩm ướt, hóa-sinh là loài tiến-hóa, thai-sinh là loài sinh con, do bào-thai rồi sinh ra con.
Cho nên Phật là toàn-hiếu, cao hơn đại-hiếu, gồm chung tất cả. Vì mình lo cho loài người, đã đành cũng tốt vậy, nhưng mà biết đâu ông bà cha mẹ mình vì thương con, thương cháu, lắm khi làm điều tội ác, ăn cướp, ăn trộm, gian tham, đĩ-điếm, trà-đàng, tửu điếm v.v… rồi bị oan nghiệt chết đi, tụt xuống làm thú vật không chừng nữa, bây giờ mình thương loài người, mình giúp đỡ loài người, nhưng các loài súc vật kia, nhiều khi làm chúng-sinh trong cõi ta-bà, sanh đi lộn lại nhiều kiếp đời mà nhiều khi bị đoạ xuống làm thú vật nữa.
Các loài thú vật tiến lên làm loài người cũng có, mà loài người ác quá, tội lỗi quá, đọa xuống cũng có, bởi vì theo sự tiến-hóa, chúng-sanh nhân-loại trong hoàn-vũ gồm mười ba đẳng cấp, thấp nhất là địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, a-tu-la, tiến lên nhơn, trên người còn nữa là bậc Thiên, thực ra trên là thiện dưới là ác, có nghĩa là trời là bậc Thiện lành. Người giữ có năm giới, không sát sanh, trộn cướp, tà-dâm, rượu chè, nói dối, nhưng bậc trời phải giữ mười điều lành, đó là: không khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi, không tham lam, sân giận, si mê, không trộm cướp tà dâm, không sát sanh, không nói dối.
Thân không sát sinh trộm cắp tà-dâm
Miệng không nói dối, đâm thọc, khoe khoang, chửi rủa
Ý không tham lam, sân-giận, si mê
Bậc trời phải giữ mười điều, gọi là thập-thiện. Vì vậy cho nên bậc trời là :
Tu đà hườn, tu đà hàm, a-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi-Phật, Bồ-tát, quả diệt Như-lai tức là Phật-tổ.
Loài người ở hạng thứ năm. Thứ năm mình còn tụt xuống, tụt lên, vì vậy Thầy có viết bài thơ năm 1960, nhân lễ Phật-đản như thế này:
“Ơn Phật lớn lao chẳng nghĩ lường
Cũng vì bác ái với tình thương
Xả thân tuổi trẻ tầm chân-lý
Cầu đạo chẳng màng bậc đế-vương
Vợ đẹp con yêu đành gác lại
Cha già mẹ yếu đoạn tình thương
Nguyện tu đắc quả tròn ngôi vị
Cứu độ quần sanh khỏi lạc đường”
“Cứu độ quần sanh khỏi lạc đường” là gì? Là bởi vì sáu đường lục-đạo là : địa-ngục đạo, ngạ-quỷ đạo, súc-sanh đạo, a-tu-la đạo, nhơn-đạo, thiên-đạo. Sáu đường này cứ luân chuyển hoài. Kiếp con người
Sanh ra rồi lớn, rồi già,
Rồi đau rồi chết lìa qua một đời
Rồi theo nghiệp luân hồi trở lại
Cũng sanh lên cũng mãi tấn tuồng
Bánh xe cứ mãi quay cuồng
Sanh già bệnh chết theo nguồn chuyển xoay
Sanh lên chết xuống, kiếp này đời nọ, khi làm ông làm cha, làm chồng, làm con, làm cháu, làm vua, làm quan giàu sanh phú quý, nghèo hèn, tù tội ăn mày … Cứ luân chuyển làm sao cho hết tùy cái nghiệp, kiếp này làm phước, đời sau hưởng phước, kiếp này làm tội đời sau phải đọa xuống nữa. Thành ra cứ quanh quẩn trong sáu đường này, mà thoát ra không được, gọi là lục-đạo. Mà lục-đạo ảnh hưởng của tam đồ. Tam đồ là: Đao đồ, thủy đồ, hỏa đồ
Đao đồ: là chết vì gươm dao, đao búa, thịt này đụng vô là chết.
Thủy đồ là chết vì nước ngập lụt, trôi, chìm nổi, mình ngó vậy mà đem nhận nước chết queo.
Hỏa đồ: là lửa đốt, chiên, kho, xào, nấu, luộc, mình mà đút vô lủa cũng cháy tiêu nữa.
Thành ra trong lục-đạo phải chịu ảnh hưởng của tam-đồ, nó có sự liên-quan như vậy. Chúng-sinh ở trong lục-đạo tam đồ khổ hoài. Đức Phật, Ngài chỉ con đường siêu-thoát hơn là Phật-đạo, nghĩa là ra khỏi lục-đạo, cho nên: Cứu độ quần sanh khỏi lạc đường.
Ngài hy sinh cuộc đời của Ngài. Ngài tu thành đạo đắc quả rồi, Ngài đem ánh sáng từ bi rọi khắp chúng sanh, nhân loại để cứu vãn chúng sanh thức tỉnh thoát khỏi vòng lục đạo tam dồ này, cho nên ơn Phật rất là lớn lao vô cùng vô tận.
Bây giờ chúng ta muốn thoát khỏi lục-đạo, tam-đồ thì phải làm sao tu lên thiên-đạo. Cho nên là người, chưa đủ đâu; mà nhiều khi chúng ta là người mà chưa đúng là người nữa. Đâu phải sanh ra con người là người rồi! Quý vị có thấy lắm kẻ mang thân con người mà lòng lang dạ thú, hung dữ, ngang tàng như beo như cọp, chửi cha mắng mẹ, giết chóc người này, người nọ, người kia, làm những điều tàn nhẫn, ác độc, tôi nói xin lỗi chớ mang thân con người chớ làm đâu phải là người; chứ xác thân nào cũng “đất nước lửa gió” cấu tạo thôi. Dầu thân con người chứ thân con vật, sự thật mà con người khòm xuống mà bò bốn chân, đừng có ăn mặc, còn thua con thú nữa! Con thú còn có lông lá che đậy kín đáo, chứ con người tồi tệ hơn nữa. Nhưng con người khác hơn con thú là đầu trên chân dưới, chứ không phải bò như thú vật đi ngang hàng với nhau. Vì vậy cho nên người là nhơn.
“Tả phúc vi chơn, hữu vệ vi chánh, thường hành chánh chơn; cốt viết vi nhơn”; người là toàn chơn với thánh với thiện, với mỹ mới gọi là người. Chứ không phải mang thân con người, xác thân loài người, là người đâu; mà người là phải thiện lành, phải giữ lòng nhơn đức, nhân ái nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa. Chữ nhân là vậy đó mà.
Cõi thiên là thiện lành. Cao hơn người phải giữ thập thiện lận, lo điều lành, người giữ mới có năm giới là lòng nhân không sát sanh thôi. Vì vậy cho nên trên nhân là phải thiên. Bây giờ chúng ta phải giữ điều lành thêm nữa. Không phải mình thương cha thương mẹ, thương anh, thương em, là đủ đâu. Đã đành, người biết thương cha mẹ anh em vợ con là tốt lắm. Có nhiều người, cha mẹ mà không thương, chính có nhiều bà bị con đuổi đến chùa khóc đây nè, con lãnh qua, bây giờ nó không thèm nuôi, nó đuổi!
Quý vị nghĩ coi – mặc dù nói nó đụng chạm nặng nề thiệt – nhưng nó còn thua loài súc vật vậy! Nhiều con thú, mà quý vị biết không, nó có hiếu lắm đó, chẳng hạn như con quạ, quý vị thấy không con quạ con tại sao nó gắp mồi nuôi con quạ lớn; nuôi quạ nhỏ thôi chớ sao con nuôi quạ lớn, kỳ vậỷ mặc dù tuy con quạ nó đen thui đen thủi, mà nó còn có hiếu, khi con quạ đẻ ra nuôi lớn, gắp mồi nuôi quạ con lớn rồi, chừng đó quạ con kiếm mồi nuôi quạ mẹ, đền ơn lại sáu tháng. Từ đó mạnh con nào kiếm tìm ăn sống. Tại sao loài người chúng ta không thương mến mẹ; người ta muốn cầu có cha mẹ hết sức mà cầu không ra, bây giờ cha mẹ còn sống lại hất hủi, đuổi xô. Còn có người cha mẹ muốn tu cũng không cho, đi chùa còn cản đản nữa.
Rồi có người được thầy nói pháp, bả nghe, bả nói:
“Trời ơi, thầy nói vậy chết con rồi! Từ khi má con qua đây mấy tháng đỡ hết sức thầy ơi, con mướn hai ba người cũng không bằng nữa! Sao? Ở giữ con, nấu cơm, giặt đồ, lau nhà, lo đủ thứ hết!”
Thành ra bả mừng quá bả nói “thiệt mướn hai, ba người không bằng nữa!” Nghe thiệt tội nghiệp. Tưởng đâu rước mẹ qua đây để nuôi nấng, đền ơn, báo hiếu nghĩa sinh thành; ngờ đâu rước mẹ qua đây để giữ nhà, chăm sóc mấy đứa nhỏ, để khỏi mướn người trông trẻ. Vậy hỏi bà ấy mừng là mừng làm sao?
Thầy mới nói với bà ấy như vầy:
“Bổn phận cha mẹ sinh con ra là phải nuôi, bởi vì mình tạo ra mình không nuôi mình có tội với nó; ai biểu mình tạo ra nó làm chi? Tạo ra là phải nuôi, phải dạy dỗ cho nên người, làm sao nó được ích nước lợi dân, làm sao cho con người của nó được lợi cho xã-hội, có lợi cho nhân loài, dầu không lợi cho ai thì nó đừng làm hại cho ai!” Không lợi cho ai cũng được, nhưng đừng làm hại cho ai cũng tốt; chứ để nó làm hại cho ai thì cha mẹ cũng đắc tội, là bởi vì:
“Giáo bất nghiêm sư chi đọa
Tử bất giáo phụ chi hóa”
Con không dạy, lỗi tại cha mẹ. T rò không dạy là lỗi tại ông thầy. Bổn-phận thầy là phải dạy trò. Bổn-phận cha mẹ phải dạy con cháu. Nhưng mà dạy nó không nghe, chừng đó mới là bổn-phận nó, gọi là: Giáo bất thính tội ư nhơn.
Dạy không nghe đó là mình hết bổn phận rồi; chớ mình sanh ra là phải dạy nó, chớ không phải sanh ra là nuôi nó mà thôi. Nhưng mà bây giờ sanh ra nuôi nó, bây giờ phải nuôi con nó nữa. Phải là một chuyện đáng tội không?
Cho nên thầy nói ra thì nó đụng chạm, phiền hà người ta thật. Thầy khuyên tất cả quý bà con có gặp ai như vậy nói dùm thầy, một mình thầy nói không ra đặng mênh mông bao la đâu. “Đừng bao giờ bắt cha mẹ nuôi con mình, đừng bao giờ làm những chuyện đó!” Cha mẹ nuôi mình ơn như trời như biển mà mình không nuôi lại được, bây giờ lại bắt nuôi con mình nữa, bậy quá chừng quá đổi rồi! Thầy nói, quý bà con nghĩ thầy nói có đúng không?
Mình chưa mang cái thai nghén, mang chín tháng đi ột ệt muốn chết vậy đó. Thầy hôm trước cổ thầy nó đau, có ông bác sĩ đưa thầy cái niệt mang về chút xíu vậy thôi, cái băng thôi mà thầy còn thấy khó chịu vô cùng vô tận, mà quý vị Phật-tử mang thai như vầy chín tháng đi ột ệt, đi không dám đi, chạy không dám chạy nữa, nhảy không dám nhảy, leo trèo không dám leo trèo, hỏi như vậy có là khổ hay không?
Tới chừng sanh ra nó nghen, thấy đau đớn lắm, không thể tưởng tượng. Sanh ra đó người ta nói “bấm cây cột mềm như chuối!” Cột mềm sao được mà mềm? Nhưng vì đau quá, đau không thể tưởng tượng, cho nên lúc đó bấm cây cột người ta có cảm tưởng mềm như cây chuối! Nhưng mà nó đau quá sức đau. Lúc mà sanh tưởng như rồi sao? Có nhiều khi đứa con ngỗ nghịch không chịu chun ra, còn nằm ngang, nằm dọc phải mổ bụng nữa chớ; quý bà con thấy có nguy hiểm không?
Rồi bây giờ mình lớn tuổi, sanh con ra nuôi lớn lên, có nhiều đứa bệnh hoạn hoài, nó lớn đến đâu tiền tới đó, rồi đêm đến nó đau phải vác trên vai ù ơ ú ợ… đi cả đêm, khổ vậy! Nhiều khi nó sổ mũi, hỉ không được, có người kê cái miệng nút cái chụt phun ra ngoài. Bây giờ mình lớn rồi, có ai dám nút mũi của ba má mình không? Ớn quá há! Ớn quá số kể! Nói thiệt cho nghe chớ thầy cũng chưa làm được nữa! Thầy biết nói nhưng sự thực thầy làm chưa được. Bà cụ, thân mẫu thầy đó, mặc áo vàng chắp tay đứng đó, bà ăn chay bà tu, cho nên thầy có phước nhờ bả tu cho nên thầy mới tu; con nhờ đức cha mẹ. Nhưng mà sự thật thầy nghĩ ràng bả còn sống thực sự mà bả nghẹt mũi thầy cũng cam chịu, nhờ tín đồ kêu bác sĩ, chớ thầy không dám nút mũi nữa. Thầy nói chính thầy hiếu dữ lắm nghe, mà thầy thấy thầy làm chắc cũng chưa được. Quý bà con chắc cũng chưa ai làm được việc đó.
Nhưng mà cha mẹ, bất cứ cha mẹ nào, cũng làm điều đó được hết! Thí dụ thầy không tu, thầy ở ngoài đời, thầy có vợ con, chác con thầy thầy cũng làm được nữa, thầy mút ra cũng được nữa, không gớm; tại sao kỳ vậy, không biết nữa! Cho nên người ta nói “nước chảy xuôi” là vậy đó, nó không chảy ngược. Con mình làm sao mình thương quá, ai cũng vậy, quý vị thấy không?
Đến đổi hồi xưa ông Hứa Trang Quân lúc ổng còn làm thừa tướng, một hôm ổng đi săn, ổng cầm cây tên bắn mục đích bắn con khỉ mẹ chết để bắt khỉ con, khi ổng giương tên bắn con khỉ mẹ, bị tên độc, khỉ mẹ hét lên rồi, thì con khỉ đực là cha nó chạy lại, nó rứt con nó, nó giao cho chồng nó, rồi nó giẫy xuống chết. Quý vị có thấy không, con thú mà nó thương con nó như vậy, nó có lòng thương con nó như vậy, thì tại sao con người lại bỏ con giữa chợ, hay là hành hạ con, giết chóc con. Nói xin lỗi, thua con khỉ rồi!
Rồi con khỉ con nó cũng đáp lại tình mẹ nó cũng xứng đáng, khi đó ông Quân mới muốn bắt khỉ con, ổng làm sao? Ổng lấy cây roi. Con khỉ đực tha con nó một đổi xa, nó ngó chừng coi vợ nó làm sao – con thú mà nó khôn vậy – thì khi nó nhìn thấy vợ nó ngã xuống chết rồi, ông Quân bèn cầm cây roi đánh vô khỉ mẹ thật đau, trót trót vậy. Con khỉ đực thấy thương quá, bồng con chạy lại gần coi, con khỉ con thấy mẹ bị đánh như vậy, nó tội nghiệp, nó thương mẹ quá đi, nó buông cha nó ra nó nhào lại ôm xác mẹ nó; ông chụp vô kịp thì nó giẫy nó chết.
Ông thấy chuyện quái lạ vậy, sẵn gươm cầm tay, ông bèn mổ bụng khỉ con coi thế nào và tại sao nó chết như vậy, thì than ôi ruột con khỉ con đứt ra từng đoạn mà chết!
Thương mẹ mà đứt ruột như vậy, thật là đáng một đứa con hiếu thảo! Con khỉ mẹ thương con, rứt con ra giao cho chồng rồi giẫy chết, thật là bà mẹ đáng là mẹ hiền! Con khỉ con ôm mẹ đứt ruột mà chết, thật là đáng một đứa con hiếu thảo! Tuy nó là khỉ nhưng nó đáng cho mình kính trọng nó, noi gương nó; hình tướng nó là khỉ, tâm-hồn nó rất cao-thượng, là tâm-hồn người hiếu thảo, chớ không phải tầm thường!
Con quạ đen thui, thú vật, mà sao thương cha mẹ, hiếu thảo vô cùng! Con khỉ là thú vật mà tại sao thương mẹ, thương con như vậy? Loài người chúng ta lại thua nó ư? Loài người chúng ta là thông minh, là sáng suốt, là trời Phật. Trời Phật có khác gì chúng ta đâu? Chúng ta còn là phàm nhân tục tử, là chúng-sanh, nhưng khi chúng ta lìa xa cái phàm nhân tục tử, giác-ngộ là Phật chứ gì? Bởi vì Phật với ma, với chúng-sinh có khác gì, chỉ là chỗ mê giác thôi. Cho nên có thơ như thế này:
“Ma ma, Phật Phật chính do ta
Ma Phật khác nhau chỗ chánh tà
Giác Phật, mê là ma đó vậy
Chân như là Phật, vọng là ma!”
Vậy, Phật ma là do chính mình chứ có ai đâu? Mình cũng Phật, mình cũng là ma. Hễ:
“Tâm thanh tịnh đó là tâm Phật,
Tâm buông lung vọng niệm là ma!
Chơn tâm là Phật đó mà,
Vọng tâm là quỷ hiện ra tại lòng!”
Thì bây giờ mình giữ tâm mình trong sạch, thanh-tịnh là Phật, tiên, thánh, hiền chớ gì đâu. Còn tâm mình đảo điên phiền não, tội lỗi thì ma chứ gì đâu! Vậy thì ma quỷ, Phật, tiên, thánh hiền cũng chính mình chớ có ai đâu. Hổng phải thành Phật là có ai ra giúp hoặc gì nữa đâu. Ông Phật, mình thấy tướng mạo quang-minh hiền từ đạo đức ôn hòa nhã nhặn, bác ái từ bi, thương người mến vật, cho nên từ cái tâm tốt nó hiện ra tướng tốt. Gọi là:
Hữu ư tâm xuất trình đối diện
Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh
Hữu tướng vô tâm tướng tùng tâm diệt
Bởi vì tâm Phật tốt cho nên tướng hiện ra lúc nào cũng tốt. Còn ma, mình nghe nói ma là mình đã sợ rồi là bởi vì tâm xấu cho nên hiện ra tướng xấu. Quý bà con lâu nay nghe nói đẹp như tiên không? Người nào tướng tốt lịch sự quá, nói là “Trời ơi, bà đẹp như là tiên hà! Cô đẹp như tiên, chú đẹp như tiên hà!” Tại sao lại tiên đẹp? Có ai nói xấu như tiên không? Tiên đâu có xấu được, mà sao tiên đẹp? Tu thành tiên cũng khó lắm nghen. Cũng giữ giới đức đạo hạnh nhiều. Hồi trước thầy cũng có tu tiên, thầy có luyện giữ lắm mà ở trên núi, thầy luyện nhiều, và tu tiên cũng khó lắm. Tu tiên phải: Thất bá nhật thất linh cơ. Rồi phải đi bá nhật, thất nhật. Rồi đi tam nương. Đi cửu niên vĩnh đức, khổ lắm, tu tiên khó lắm.
Thầy có viết bài thơ hồi thầy tu trên núi:
“Sự thế mặc người, ta cứ tu
Lục căn đóng lại bản êm ru
Âm thầm tịnh tọa công phu mãi
Lủi thủi trong am tựa ở tù!”
Lúc đó tịnh thất như ở tù vậy, nhưng mà khác nhau:
“Tù thế, tù tu cũng gọi tù
Tù tu tu tịnh mãi công phu
Tù vô tư lự nên thường trú
Tù chẳng tham cầu: đấng trượng phu!”
Tù đó là tù thiệt, tự mình nhốt mình. Cũng như ở tù chớ gì. Nhưng tù đó nó thong dong lắm.
“Phu chồng, phụ vợ mối oan khiên
Tù ở thế-gian tội nhãn-tiền
Tù nghiệp dấy ra, ta khó gỡ
Tù này muôn thuở chẳng ngồi yên!”
Đó là vợ chồng keo kết nhau như là ở tù vậy!
“Yên tâm, tịnh thánh bởi tu thiền
Tam bửu điền hòa giữa hạo nhiên
Khí phách thần hồn dồn một mối
Trọn ngày chí tối giữ căn nguyên

Nguyên lai bổn thể tại có thiền
Tam bửu điền hòa hoán nghiệp duyên
Bất chấp bất tri vô lý sự
Phi lai phi cứu chưởng thành tiên

Tiên Phật giai do tự tánh mình
Thánh phàm danh vọng bởi tham sinh
Tâm ma dạ dạ ma ma thịnh
Tâm Phật như như huệ huệ minh

Minh quang lại tốn vĩnh trường tồn
Khai chiếu kê hoàn cửa đại môn
Thong thả ra vào nào có huệ
Về chầu thượng giái, bái thiên tôn

Tôn Phật thánh tiên đến trọn lành
Đạo vàng khai hóa độ nhơn sanh
Thoát vòng lục đạo, tam đồ khổ
Chưởng phước tăng duyên đạo chóng thành

Thành pháp tác tiên bởi chỗ tu
Muốn tu ra khỏi thế-gian tù
Cần nên đóng cửa trong ngoài kín
Sự thế mặc người ta cứ tu!”
Thầy đã viết chín bài “cửu liên hoàn” như trên đó. Thầy nói để Phật-tử nghe, bây giờ nói xin lỗi, người ta nói tu là xuất hồn này hồn nọ, cái đó thầy biết rành lắm, thầy hồi đó thầy có quyền xuất sư mà. Thầy dạy một lần tu ba mươi mấy bốn chục vị nhập thất lận mà. Nhưng mà tu chừng nào tu phải luyện có tấm thai, thiệt khó chớ không phải không, rồi công phu trời ơi mà xuất hồn ta đó, năm mười năm hai ba chục năm chớ không phải tu năm, ba ngày, năm, mười ngày mà “xuất” đâu. Cái đó là ước vọng của người tu, chớ “xuất” gì nổi! Bây giờ vô tu năm ba tháng chỉ cách xuất hồn thì coi chừng ma nhập vô đó. Đi đó là đạo chết, nguy hiểm vô cùng.
Muốn tu Phật cũng tốt vậy. Tu Phật gọi là “giới, định, huệ”. Tu tiên là làm sao giữ gìn tam-bảo “tinh, khí, thần”, đúng theo tiên là tiên, đúng theo Phật là Phật. Mà tiên Phật nói vậy, tuy hai phương pháp nhưng nó giống tợ như nhau. Về cái chỗ tu rốt ráo nó cũng giống nhau, chớ không có gì khác. Nhưng mà tiên thì theo Lảo-tử, Phật thì theo Đức Thích-ca. Rồi nho thì theo Khổng-tử. Cho nên người ta thường nói rằng lấy ba điểm “Tam giáo đồng qui, ngũ chi hiệp nhất”. Đạo tam kỳ phổ độ người ta nói vậy đó; nhưng muốn tu tiên thì cực lắm, công phu khổ lắm, gian lao lắm, ngồi suốt đêm, chớ không phải tu tiên thành tiên là dễ đâu, mà thành tiên là tâm tốt rồi đó, tâm toàn chơn, toàn thiện rồi đó, thì hiện ra hình tướng tốt. Bây giờ, con người mặc dù tuy tốt bên ngoài, lòe loẹt hình thức nhưng con người trong tâm hung ác, ngang tàng, táo bạo, gian giảo, xảo trá, lường gạt đủ thứ gian manh, quý vị thấy có tốt được không? Cho nên “hữu tâm vô tướng” thì “tướng tự tâm sanh”, còn “hữu tướng vô tâm”, có tướng tốt thiệt mà tâm xấu là “tướng tùng tâm diệt”, tùy theo đó mà trở thành xấu.
Vậy thì, tóm lại chúng ta ở trên cõi đời này, ai cũng có cha có mẹ, có thân bàng quyến thuộc, bổn phận người con lúc nào cũng nghĩ tưởng công ơn cha mẹ mà báo hiếu, đáp nghĩa đền bồi, cha mạ còn sống phải phụng sự cha mẹ hết lòng, cha mẹ muốn tu hiền, muốn làm gì đó, đã nuôi mình lớn rồi thì mình phải trả quyền tự do cho cha mẹ, đừng bắt cha mẹ nuôi con, nuôi cháu, nuôi chắt, nuôi chít mình nữa. Có bà tám mươi mấy tuổi, thầy khuyên bả nên đến chùa về chùa tu đi, bả nói là “con còn bị thầy ơi, con còn mắc thầy ơi, con còn phải thầy ơi …” Tại, bị, còn cháu chắt của con con phải giữ! Thầy nói:
“Còn mớ cháu chắt à, vậy bà còn cái cháu nữa!”
“Cháu gì?” Thầy nói:
“Cháu vên-vên!”
Ở Việt-nam, mình chết thường đóng cái hòm bằng vên-vên đó; cây vên-vên đóng hòm để nước lâu mục đó mà, là “cháu vên-vên” đó, chớ cháu gì! Đã lo tới cháu ngoại, cháu nội là quá sức rồi còn gì, còn phải lo tới cháu chắt nữa! Quý bà con thử nghĩ coi, họ lợi dụng tới mức tối đa đó!
Cho nên nói thiệt nghe, ai mà có con cháu ráng mà giữ đi, không thì mướn người ta giữ, đừng có bắt cha mẹ giữ, tội lắm nghe! Mình chưa đền ơn cha mẹ, lại bắt cha mẹ mình nuôi con mình, đó là bậy vô cùng! Rồi bây giờ, cha mẹ còn sống mình phải nuôi cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ, đền ơn, báo hiếu, đáp nghĩa cha mẹ sinh thành, nhưng cha mẹ đã trở nên người thiên-cổ rồi thì làm sao? Mình phải ráng làm sao để đền ơn cha mẹ, báo hiếu, thì bây giờ mình phải ăn chay niệm Phật, giữ giới tu hiền, in kinh ấn tống, làm các phước duyên, kết bòn công đức, để mình hồi hướng cầu cho cha mẹ mình siêu thoát, bởi vì trong kinh có nói rằng:
“Nhứt nhơn hành đạo, thiên nhơn lợi,
Độc mộc hoa khai vạn thọ hương”.
Nghĩa là một người tu-hành, muôn người đều được lợi; đám rừng mênh mông, một cây trổ hoa thơm thì đám rừng đều ảnh hưởng. Hay là: “Nhứt nhơn hành đạo cửu huyền thăng” thì bây giờ mình biết tu hành thành đạo thì ông bà cửu huyền thất tổ được ảnh hưởng. Bây giờ cha mẹ đã chết rồi, bổn phận làm con phải ráng tu nhơn tích đức, ăn hiền ở lành, làm phước làm gia hồi hướng phước báu mà cầu cho ông bà cha mẹ mình. Nhưng điều quan trọng là mình phải tu, và dạy con cháu mình tu, là ông bà mình siêu thoát. Tại sao vậy? Bởi vì cha mẹ ông bà chết luân-hồi thành con cháu; chắc chắn là ông nội ông ngoại bà cố chết rồi chun vô bụng nàng dâu, cháu dâu chớ không đâu hết trơn hết trọi! Bởi vì sao? Là bởi vì nguyên do thương con, mến cháu, tiếc của, tham tài, chết đâu có đi xa! Bởi thế cho nên có câu rằng:
Tình thương luyến ái là sợi dây oan trái buộc ràng,
muôn ngàn đời kiếp chẳng tháo gỡ ra
Khi làm cha, lúc làm cháu,
hết làm bà, trở lại làm con,
Cho nên nhiều khi có những người con cháu cứng đầu cứng cổ … “Thôi, mẹ ơi, con lạy mẹ! Mày là mẹ tao! Mày là bà nội tao, bà cố nội tao! Mày là cha tao đó, mày là ông nội tao đó nghe!” Mà thiệt, ổng bả trở lại đó.!
Bây giờ quý bà con thử nghĩ, có nhiều người khuyên đi lại thọ bát quan trai có một ngày một đêm mà đi không được, bỏ nhà đi hai, ba ngày không được, hỏi chết đi đâu? Về Niết-bàn Tây-phương à? Nói xin lỗi, chưa chắc mấy ông thầy đã đi về Tây-phương được! Mấy ổng mấy bả tu trối chết không biết có về được không; nói chi mới tụng một, hai thời kinh đòi về! Vì vậy cho nên bây giờ muốn cho ông bà cha mẹ mình được siêu thoát, thì mình cần phải dạy dỗ con cháu mình tốt, và chính mình phải tu, bởi vì mình tu thì mình mới độ người ta tu được, chứ “chân mình đã lấm mê mê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người”, thì rê làm sao đây? Mình phải tu rồi mới độ người.
Cho nên Đạo Phật nói đâu đó đúng đắn, tự độ rồi mới độ tha, chớ không phải tha độ mới độ tha! Tự-giác rồi mới giác tha. Tự lợi rồi mới lợi tha. Thì giác hạnh mới viên mãn. Chớ bây giờ mình không tự lợi, tự độ, tự-giác, thì mình muốn giác người ta là giác làm sao? Như vác củi vô rừng chạy rồi bỏ vô lò đốt hay làm sao? Thành ra mình phải tu rồi mới khuyên người được. Cũng như nói xin lỗi, có nhiều ông nói hay hơn thầy nữa, người ta học kinh thánh hiền còn thông suốt lắm, nhưng mà tại sao khuyên nói người ta không nghe? Còn thầy có duyên, thầy nói người ta nghe, là bởi vì người ta thấy ổng tu, ổng hy-sinh cuộc đời từ nhỏ tới lớn, không vợ, không con, không tiền, không bạc, không danh, không lợi, không cá-nhân ổng, dù có chăng là có phương-tiện giúp ích cho đời chớ không cá-nhân riêng. Thành ra có người chưa ăn chay ngày nào, lại gặp thầy, thầy nói chuyện một hồi rồi mến thương, cảm tình thầy, rồi khuyên ăn chay, cái ăn chay trường! Nhiều người cứng đầu, cứng cổ quá, nhiều khi chồng hay vợ của họ, hay con cái họ nói “Chắc ông Giác-nhiên có bùa ngải làm sao, ổng nói người ta nghe!” Bùa ngải làm cái gì? Tà sư ngoại-đạo, tôi tuyệt đối không có dùng cái đó, nếu tu mà dùng bùa ngải, thư, tôm, trù ếm, xăm, quẻ, tướng số, bói khoa, đó là không phải chánh-pháp rồi. Nhưng mà nếu người ta nghe là tại cái duyên.
Thầy chưa có dịp gặp, nhưng mà sư cô nói mà người ta nghe người ta ăn chay thì cổ cũng có phước lắm. Có đức mới nói người ta nghe đó. Quý vị biết là hồi trước đại-đức Narada qua bên Việt-nam, ổng cũng có duyên đó; nhiều ông thượng-tọa, đại-đức ở Việt-nam có giới-hạnh cao mà nhiều người không chịu quy-y. Rồi ổng tu theo bên Nam-tông, nhưng mà ổng ăn chay, rồi lại là nhiều người quy-y ổng, cũng ăn chay nữa, cũng giữ giới. Thành ra nói tóm lại, những vị khuyên lơn người ta tu đó, mà dìu dắt hướng dẫn người ta được, hay là đừng nói chi các chúng tăng, tôn túc, nhiều người Phật-tử, nhưng mà quý vị biết có nhiều người nói người ta nghe, nhiều người nói mà người ta không nghe, mà người nói người ta nghe người đó phải có ít nhất giới đức, đạo hạnh, đàng hoàng, ăn nói đứng đắn thì nói người ta mới nghe, người ta mới nể tình, chứ người đó như người khác thì nói ai nghe?
Tóm lại, làm người sống trên mặt đất này, mỗi người ai cũng có bổn-phận và trách nhiệm; trách nhiệm của mình, bổn-phận của mình, mình làm tròn, đó là người hiếu thảo, đó xứng đáng là một người công dân của đất nước. Bổn-phận là con đối với cha mẹ mình, còn sinh tiền mình phải nuôi nấng giúp đở, nếu chết đi, mình phải nhớ lời cha mẹ dạy bảo khuyên lơn, những gì để thực hành để khỏi phụ lòng cha mẹ, nhứt là dạy dỗ con cháu mình nên danh nên phận thì được danh thơm tiếng tốt giòng họ tổ tiên, chớ nếu con cháu mình hoang đàng làm điều bất phải, thì cũng mang tiếng là con của mình, cháu của mình, vì vậy mình phải ráng dạy khuyên con cháu mình nên ngươi.ị
Đó là tinh thần xây dựng mà cũng là thực tế cầu siêu cho ông bà cha mẹ mình nữa, chớ tụng kinh nói là để cầu siêu; siêu là gì? Siêu là vượt qua! Không phải chết rồi mới siêu, mà lúc sống cũng phải cầu siêu nữa, con mình nó cờ bạc hút xách, trụy lạc, phong-lưu, trà đàng tửuđiếm; phải lạy nó! Nói vậy là quá nặng hả? Nhưng không lạy nó thì năn nỉ nó, không năn nỉ nó thì khuyên lơn nó, để nó đừng tật xấu thói hư, đó là cầu siêu cho nó phải không? Còn cha mẹ mình còn sanh tiền cũng vậy, cha mẹ già rồi mà không biết tu hiền, có nhiều bà già lại chùa tụng kinh niệm Phật không chịu, ngồi đánh bài cụp xương sống thì lại chịu – thí dụ vậy – thì mình phải lạy mẹ đừng có đánh bài nữa, ba mình uống rượu say sưa hoài, mình lạy ba để ba đừng uống rượu nữa. Con cũng cầu siêu cho cha mẹ nữa chớ không phải không, cầu siêu nếp sống hiện tại đương thời, chớ sống mà hung hăng như cọp như beo, chết cầu siêu, cầu siêu sao nổi! Làm sao siêu nổi chớ? Bởi thế cho nên có câu rằng:
“Sanh tiền bất tri thiên đường lộ
Tử hậu nan ly địa ngục môn”
Sống mà không biết tu hành đạo đức, thì chết rồi cửa địa-ngục khó xa lìa. Cho nên chết mà cầu siêu là để cho an lòng mình, mà sự thật là độ người sống đó! Cũng như hồi đó ở Việt-Nam, nói thiệt quý vị nghe, thầy nhiều khi đi cầu siêu cho cha mẹ mấy ông tướng, trung-tướng, thiếu-tướng chẳng hạn, mấy ông tỉnh trưởng, bộ-trưởng chẳng hạn; mấy ông đó nói thiệt lo làm ăn, chạy theo việc làm, đâu có ăn chay gì, đâu có quy y, đâu có giữ giới nên đâu có ăn chay gì, nhưng khi thầy đến tụng cho một hồi kinh rồi, cầu siêu cho cha mẹ mấy ổng, hay nội ngoại gì đó, xong rồi, thầy mới nói chuyện cho nghe một hồi, thầy khuyên:
“Bây giờ muốn cho ông bà cha mẹ được siêu, quý vị nên phát tâm ráng quy-y, xin pháp-danh đi, niệm Phật đi, bố thí làm phước đi!”
Tất nhiên lúc đó nói mấy ổng nghe liền hà, là bởi vì cái chữ hiếu mà; thì không biết cha mẹ có siêu hay không, nhưng mà thực tế những người sống hiện tại giác-ngộ, thức-tỉnh, biết ăn chay, niệm Phật, quy-y tu-hành, làm lành, làm phước này, quý vị có thấy không? Không phải tụng kinh không mà được siêu độ, mà cần phải thuyết pháp, giảng đạo, để người sống hiện tại ý-thức giác-ngộ, mà nương về đạo đức tu hành. Đó chính là tứ sự lý tánh.
Tứ sự vô vi, lý tánh đồng đẳng
Thì giờ ít ỏi, thầy chỉ tóm tắt đôi lời, thầy cũng thành tâm cầu nguyện cho mười phương chư Phật và đại Bồ-tát chứng minh tấm lòng hiếu-kính của tòan thể chư vị hôm nay thiết lễ kỳ siêu cho cửu-huyền thất tổ ông bà cha mẹ của mình, cầu nguyện hồi hướng phước báo này, ngưỡng mong tam-bảo ban phước lành cho tất cả chư hương-linh ấy được chân minh chánh pháp, siêu thoát nhẹ nhàng vãng-sinh tịnh-độ, thân bằng quyến thuộc quý vị, người sống hiện tại đương đời tăng long phước thọ, vạn sự an khang phúc lạc đủ đầy, sở cầu như nguyện. Ngưỡng mong ơn trên Tam-bảo chứng minh thầy cũng tất cả quý vị để hồi hướng phước báo cầu chung
Nguyện đem công đức nầy
Hồi hướng khắp tất cả
Đệ-tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật quả
Nam mô A-di-đà-Phật!
Nam mô Bổn-sư Thích-ca-mâu-ni Phật!

Thời pháp đến đây là viên-mãn, song còn khoảng băng trống nên tôi tiếp tục đọc lại những bài thơ tuyệt tác ở trong cuốn lịch bỏ túi, nan Canh-ngọ 1990 hầu cống hiến cho quý vị:
Tân xuân kính chúc:
Xuân năm mới trở về trên đất khách
Tôi bùi ngùi nhớ lại chốn quê hương
Lòng xót xa thương nhớ khó phân tường
Xin tạm gởi đôi lời về thăm viếng
Chúc tăng ni tu hành càng tăng tiến
Chúc thiện nam tín nữ được bình yên
Chúc mọi người phúc lộc được vẹn tuyền
Đồng hưởng thọ đạo trường tu bất diệt

ĐH Nguyễn Minh Huấn chép từ băng ghi âm
ĐH Châu-Ngọc Lê Hoa Nhụy đánh máy
ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức ngắt câu & trình bày

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 105 other followers

%d bloggers like this: