Đăng bởi: NT | 21/07/2009

Nước Mắt Thiền Sư

TÂM NGUYỄN
Nguồn: Báo Giác Ngộ 493
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Có một người trung niên sau khi xuất gia trở thành một vị cao tăng, trụ trì một tu viện cách rất xa gia đình. Rất nhiều người ngưỡng mộ danh đức của ngài nên đến xuất gia cầu học.

Ngài luôn dạy các đệ tử nên đoạn trừ thế duyên để liễu ngộ chân lý, tinh tấn phát huy trí tuệ, phá trừ ngã chấp, tự độ độ tha. Và ngài nhấn mạnh chỉ có đoạn trừ tình ái thế gian thì mới có khả năng đạt được giải thoát.

Một ngày nọ, từ nơi quê hương xa xôi của ngài truyền đến tin chẳng lành. Đứa con duy nhất của ngài lúc chưa xuất gia đã lâm trọng bệnh qua đời. Các đệ tử sau khi nhận được tin cùng nhau tụ tập lại luận bàn, chẳng biết là có nên báo tin buồn này cho sư phụ biết hay không?

Cuối cùng họ đi đến kết luận: Sư phụ đã đoạn trừ thế duyên rồi, đứa con duy nhất đó dù sao thì cũng là người thân của ngài, nên báo tin không vui này cho ngài biết. Đồng thời họ cũng nghĩ sư phụ là người đã tu hành đến mức cao như vậy rồi, nếu nghe tin đứa con duy nhất chết thì cũng chỉ thản nhiên thôi.

Thế là họ cùng nhau đi đến báo tin này cho thiền sư. Khi vị cao tăng vừa nghe tin thì mặt buồn rười rượi, hai dòng nước mắt cứ lăn dài xuống má. Các đệ tử vừa nhìn thấy sư phụ có phản ứng như vậy thì cảm thấy rất lạ, họ cũng không ngờ sư phụ qua thời gian dài tu hành như vậy mà cũng chưa đoạn trừ được tình cảm.

Trong nhóm đệ tử có một người can đảm đứng ra chắp tay hỏi:

– Sư phụ, bình thường sư phụ hay dạy chúng con đoạn trừ thế duyên, cần cầu giải thoát. Sư phụ xuất gia đã lâu vì sao nghe tin con chết lại đau khổ nhiều như vậy, như thế có phải là ngược lại tất cả những gì mà hằng ngày sư phụ vẫn thường dạy chúng con không.

Trong đôi mắt đẫm lệ, thiền sư ngước lên nói:

– Ta dạy các người đoạn trừ tình cảm thế tục mong cầu thành tựu giải thoát, chứ không phải dạy các người sống cuộc sống ích kỷ chỉ biết có mình. Đứa con của ta cũng là một trong những chúng sanh, tất cả chúng sanh cũng giống như con của ta. Ta vì đứa con của ta mà khóc, cũng là vì nỗi đau của tất cả chúng sanh trong thế gian mà khóc vậy!

Sau khi các đệ tử nghe lời ngài dạy, trong lòng tràn đầy thương cảm, mở rộng tình thương, tinh tấn tu học, cần cầu giải thoát.

(Theo Hoa Linh Thoại,
Như Nguyện dịch)

BÀI HỌC ĐẠO LÝ

Một bậc cao tăng phạm hạnh đáng kính đã rơi nước mắt khi nghe người thân của mình ra đi. Chuyện thật bình thường, ấy vậy mà rất lạ, làm cho những đệ tử và tín đồ ngơ ngác, chẳng biết tại sao? Thì ra dù đã đoạn trần duyên, một đời ẩn dật dấn thân cho sự nghiệp giải thoát, bất động giữa muôn trùng biến động nhưng ngài vẫn là một con người tràn đầy bi mẫn, vẫn yêu thương tha thiết trần gian ô trượt này.

Ai đó nghĩ rằng, tu hành càng cao thì tình cảm càng héo khô như gỗ đá thì thật sai lầm. Cũng do vậy mà một thiền tăng ngày xưa sau ba năm tu hành luyện tâm như củi khô, đá lạnh đã bị bà già hộ pháp nổi lửa đốt cốc đuổi đi, vì “vô dụng”. Tu hành mà không còn rung cảm trước buồn vui của trần thế thì làm sao mà phát khởi đại nguyện cứu độ chúng sanh.

Trước khi trở thành Thánh nhân, chúng ta phải đích thực là một con người. Khi đã trở thành bậc Thánh rồi thì lại càng người và đời hơn. Cho nên, cùng là nước mắt nhưng không bi lụy, riêng tư, đau khổ mà chính là từ bi, yêu thương rộng khắp. Sống trong cuộc đời mà bất nhiễm, xuôi theo dòng đời mà không bị cuốn trôi, song hành với cuộc đời để yêu thương và cứu độ. Đó mới là hành động cao cả và bi mẫn nhất mà không phải người tu hành bình thường nào cũng làm được.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Advertisements
Đăng bởi: NT | 21/07/2009

Thành kiến

MINH NIỆM
Nguồn: Báo Giác Ngộ 492
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Bức tường ngăn cách

Ta hay có thói quen nhìn vào bất kỳ đối tượng hay tình huống nào đang xảy ra trong thực tại bằng kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được trong quá khứ. Có thể do một số kinh nghiệm cũ thích ứng phần nào với tình trạng thực tại, nên ta thường rất tin tưởng và tự hào về sự thông minh và nhạy bén của mình, mà không chịu khám phá hay xét nét cẩn thận. Nếu quan sát kỹ và công tâm nhìn nhận ta sẽ thấy cũng không ít lần mình đã tiên đoán sai và có những bước trượt rất đáng tiếc trong quyết định. Bởi vì mọi sự vật sự việc trong vũ trụ này vốn không ngừng vận động, có khi nó biến chuyển nội dung bên trong nhưng cũng có khi thay đổi cả hình dáng bên ngoài. Nó có thể hay hơn hoặc tệ hơn, chứ không bao giờ giữ nguyên một trạng thái.



Nhưng cuộc sống quá bận rộn nên ta thường không có nhiều thiện chí để nhìn bất cứ đối tượng nào cũng bằng tâm thức mới, sử dụng kinh nghiệm cũ có vẻ như khỏe và mau chóng giải quyết được vấn đề, và kết quả như thế nào thì may nhờ rủi chịu. Một phần cũng do bản năng tự vệ cử con người chưa thuần hóa còn nhiều vụng về thô thiển, nên khi phát hiện ra cái gì có tính cách ảnh hưởng đến quyền lợi của mình là phản ứng bảo vệ ngay lập tức, bằng những tâm lý như: nổi giận, phán xét, nghi ngờ, độc tài, kỳ thị… mà không chịu bình tâm để kiên trì quan sát và tìm hiểu rõ sự thể. Cho nên hầu hết mọi người đều không có thói quen tách rời kinh nghiệm cũ của mình khi quan sát thực tại, chính vì thế mà họ vẫn thường rơi vào nhận thức sai lầm và đánh mất đối tượng.

Như trong quá khứ ta đã từng bị người thân yêu lừa dối hay phản bội, cái vết thương ấy sẽ khắc ghi sâu đậm trong tâm thức, nên khiu muốn thiết lập tình cảm với người mới thì ta rất hoang mang lo sợ. Đó là một lỗi lầm của tâm lý, vì có thể người mà ta đang tiếp xúc trong hiện tại hoàn toàn khác biệt với người cũ. Nhưng ta không đủ sức để vượt qua bản năng tự vệ của mình, ta đã cố nhiều lần nhìn người ấy như chính họ đang là, ta đã nhiều lần nhắc nhở mình người này không phải là người trước, và rồi cuối cùng ta cũng vẫn thất bại. Cố nhiên là vết thương lòng thì khó mà quên được, nhưng thay vì ta cần cho đôi bên những cơ hội vừa đủ để tìm hiểu nhau và tin tưởng nhau hơn, thì ta lại mang tâm thức nghi ngờ sự lừa dối hay phản bội ấy trong suốt cuộc hành trình chung bước với nhau. Bức tường ngăn che ấy chính là thành kiến.

Thành kiến chỉ đơn thuần là thái độ bám víu vào kinh nghiệm cũ để áp đặt lên thực tại, nên có thành kiến tốt và thành kiến xấu. Nói dễ hiểu là ta thường đeo mắt kính màu hồng và mắt kính màu đen khi nhìn người, nhìn đời. Nếu ta đã từng biết người kia rất dễ thương, bằng kinh nghiệm trực tiếp hay thông qua kinh nghiệm của người khác, thì khi gặp họ ta sẽ có thiện cảm và hết lòng ngay mà không cần phải quan sát hay khám phá gì thêm nữa. Đó là ta đang đeo mắt kính màu hồng, thấy họ nói cái gì cũng hay, làm cái gì cũng tuyệt. Bây giờ phương tiện truyền thông và quảng cáo rất mạng mẽ, chỉ cần một bài báo ca ngợi hết lời về nhân vật đó thì lập tức trong ta nảy sinh ngay cảm tình, sau này có cơ hội tiếp xúc ta sẽ dễ dàng bỏ qua bước quan sát và thận trọng căn bản.

Trường hợp ta được biết người kia là kẻ xấu, dù thông tin ấy chưa có gì đảm bảo là chính xác, nhưng ta vẫn có khuynh hướng thích đeo mắt kính màu đen trước cho chắc ăn. Cho đến một ngày ta không còn khả năng lấy chiếc mắt kính màu đen ấy ra nữa, nhìn đâu cũng thấy một màu tăm tối, nhìn ai cũng dị ứng, thấy họ là những kẻ đang muốn hơn thua hay hãm hại mình. Từ thành kiến đi tới cố chấp là một khoảng cách rất nhỏ, nếu thiếu bản lĩnh để sẵn sàng tiếp nhận bất kỳ điều gì mới lạ xảy ra thì ta sẽ dễ dàng đóng bằng những nhận thức mà mình đang có. Những người bị thành kiến khống chế sẽ không còn cơ hội để thấy được những giá trị mầu nhiệm của sự sống đang hiện hữu, sẽ trở thành nạn nhân của lối sống u uất nặng nề, rất dễ đi tới mặc cảm lạnh lùng và bế tắc.

Giữ gìn con mắt trong

Cho nên tổ tiên thường khuyên “thấy sao để vậy”, hãy nhìn đúng sự vật sự việc như chính nó đang biểu hiện ra, chứ đừng nhìn như chính tâm trạng hay kinh nghiệm mà mình đang có. Cái đó là cái nhìn của con mắt trong, cón mắt không bị bụi đời làm vẩn đục. Từ lâu rồi, ta đã quên sử dụng con mắt thật thà và hồn nhiên vốn có của mình. Nhìn nahu bằng con mắt ấy ta thấy dễ chịu và gần gũi hơn, cơ hội thấu hiểu và thương yếu nhau sẽ dễ xảy ra hơn. Nhưng xã hội hiện đại có quá nhiều chiêu thức tinh xảo, vì nhu cầu hưởng thị mà người ta không màng đến thật giả hay đúng sai, nếu không có một đời sống tỉnh thức và bản lĩnh thì ta sẽ khó phát hiện ra kịp thời và đủ sức để tách ly sự đồng hóa ấy.

Sống trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, ai ai cũng tranh thủ quyền lợi mà không quan tâm đến sự ô nhiễm tâm hồn thì ta cũng khó tránh khỏi. Lân dần nó hình thành thói quen như một bản tính tự nhiên, mỗi khi ta phát hiện một vài hành vi của đối phương tương tợ như kinh nghieejm đã có thì ta vội vàng kết luận, phán xét. Đôi khi chỉ vì một người mà ta coi khinh rồi kỳ thị cả một đoàn thể, một truyền thống, hay một dân tộc. Bởi thói quen ích kỷ của con người là hễ thấy cái gì trái ngược hay tác hại đến mình là phòng ngự và sẵn sàng loại trừ nếu có thể. Cho nên một người có hiểu biết sẽ luôn ý thức giữ gìn con mắt trong của mình, can đảm chấp nhận những hư hao về tài sản và danh dự, tại vì nó quyết định cho một đời sống an bình và một liên hệ tình cảm tốt đẹp.

Ta nên nhớ là bản chất của vạn sự vạn vật là vô thường, thì con người cũng vô thường và kinh nghiệm cũng vô thường. Trong quá khứ người kia còn nhiều vụng về lầm lỡ thì bây giờ họ có thể đã thay đổi rất nhiều, ta hãy cho họ có một cơ hội được sống với con người mới trước ta, và ta hãy tự cho mình một cơ hội sống bằng tâm thức mới trước họ. Khó khăn nhất là đối với những người thân sống chung quanh ta, ta thường không dễ nhìn thấy sự chuyển biến và phát triển của họ. Người mẹ lúc nào cũng thấy con mình khờ dại chẳng biết gì, sự quan tâm và mong muốn luôn dựa trên kinh nghiệm cũ, nên vô tình giới hạn cơ hội trưởng thành của người con. Người vợ lúc nào cũng cho rằng mình đã hiểu hết chồng rồi, khả năng lắng nghe và quan sát không hề mài dũa, nên vô tình cô lập hóa cảm hứng sáng tạo và chuyển hóa của đối phương.

Sống với một người không biết ghi nhận những biến chuyển của mình, không thấy được mình đang có những nếp nhăn trên trán hay những khó khăn bế tắc trong lòng, để có một lời an ủi hay giúp đỡ kịp thời, thì đời sống ấy sẽ rất nhàm chán. Đó cũng là lý do mỗi khi ta gặp một người mới thì rất hân hoan vui sướng và muốn duy trì mãi giấy phút được quan sát bằng con mắt không thành kiến. Đời sống vốn xuôi theo chiều hối hả, con người lại bị ảnh hưởng quá nhiều bởi kỹ thuật điện tử nên rất dễ trở thành kẻ sống hời hợt và cứng nhắc, cái gì lưu trữ vào não bộ của mình rồi thì không dễ gì lấy ra. Lối sống ấy là lối sống nhút nhát và tụt hậu, không can đảm mở lòng ra để cập nhật thông tin mới nhất từ đối phương, thì đừng hỏi tại sao sống với nhau mà không thể hiểu và thương nhau. Hiểu và thương là một quá trình luyện tập chứ không chỉ là vấn để của ý chí.

Phần lớn ai cũng sợ buông bỏ xuống những kinh nghiệm của mình, vì nó được tích lũy trong một quá trình lâu dài gian khó, nên người ta thương xem nó như sinh mệnh của mình, nếu ai coi thường nói là coi thường chính mình, nếu không sử dụng nó thì ta sẽ không còn gì nữa cả. Lẽ dĩ nhiên có những kinh nghiệm rất hữu dụng, nhưng cái kho là ta không biết nên dùng vào lúc nào và liều lượng bao nhiêu. Vì trong khi sử dụng kinh nghiệm cũ thì ta thường không còn thiện chí để tìm hiểu khám phá thêm, mà kinh nghiệm cũ dù hay ho tới đâu cũng không bao giờ diễn đạt hết về thực tại. Cho nên giới hạn lối dùng kinh nghiệm cũ một cách máy móc là để ta không bị nó khống chế và cũng để ta trau dồi kỹ năng khám phá, sáng tạo. Bởi bản chất của con người và vũ trụ này luôn kỳ bí, ta phải có một con mắt trong suốt, vững vàng thì mới hy vọng tìm ra đáp số đúng.

Mỗi ngày ta hãy tập ngồi yên để thanh lọc lại kinh nghiệm vừa mới tích góp của mình. Nếu kinh nghiệm đó không có tính chát nuôi dưỡng khả năng hiểu biết và thương yêu thì ta không cần phải để nó chiếm quá nhiều dung lượng tâm thức. Những kinh nghiệm nào chỉ tồn tại như một thói quen ngẫu nhiên, trong vô thức mà ta đã lưu trữ, thì hãy đem nó ra phân tích và buông bỏ từ từ. Mỗi khi tiếp xúc với bất kỳ đối tượng nào, ra cũng luôn tự nhắc nhở hãy nhìn vào thái độ của mình, xem mình có đeo mắt kính màu hồng thiện cảm hay mắt kính màu đen ác cảm không? Nếu có thì sớm tìm cách dừng lại cuộc tiếp xúc đó mà trở về chỉnh đốn lại tâm lý của mình. Bằng lối sống tỉnh thức như thế, ta sẽ luôn có cơ hội nâng cấp nhận thức, mở rộng tầm nhìn, không để nó bị chai cứng hay xói mòn chỉ vì những quyền lợi ích kỷ nhỏ nhen.

Cái cũ tuy quen thuộc nhưng nghèo nàn, cái mới thường không dễ chịu nhưng có khả năng đem tới một không gian rộng rãi cho đời sống. Vậy ta còn ngại ngần chi mà không dám khai tử những ý niệm hay những kinh nghiệm vốn chỉ để bảo vệ cảm xúc nhất thời. Sự an bình và thảnh thơi của tâm hồn chỉ thật sự hiện bày ra khi nào những phiền não trong ta rơi rụng xuống.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 21/07/2009

Món nào tốt hơn

Bác sĩ LƯƠNG LỄ HOÀNG
Trung tâm Oxy Cao áp, TP.HCM
Nguồn: Báo Giác Ngộ 490
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Mấy ai ra chợ muốn về không? Nhất là khi món ngon xứ mình quá đỗi hấp dẫn. Kẹt chỉ cho người phải nấu ăn cho người bệnh! Biết mua gì đây để vẫn ngon miệng mà ít tốn thêm tiền cho … thầy thuốc?



Nói chung, nếu chỉ xét về giá trị dinh dưỡng quả thật khó nói thịt hay cá, thực phẩm nào tốt hơn? Vì loại nào cũng được này mất kia. Nhưng với người bệnh tiểu đường thì cá, cụ thể là cá biển, rõ ràng có lợi hơn thịt vì nhiều lý do:

• Người ăn quá nhiều thịt, thay vì cá, là đối tượng dễ bị ung thư ruột. Bệnh này lại là một trong các chứng bệnh đồng hành gắn bó với bệnh tiểu đường. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tỷ lệ ung thư ruột tăng gần 50% ở người tiêu thụ tròm trèm 100g thịt mỗi ngày. Với người dùng hơn 100g thịt mỗi ngày thì khả năng mắc bệnh có thể tăng đến 70%! Tỷ lệ này cao hơn nữa nếu vừa ăn thịt vừa uống bia! Nói chung, người bệnh tiểu đường không nên có thịt trên bàn ăn nhiều hơn 3 lần trong tuần, mỗi lần không nên nhiều hơn 120g. Cũng đừng ăn hoài một thứ thịt. Càng thay đổi càng tốt. Thêm vào đó, cho dù thèm thịt cách mấy cũng nên tránh xa các món thịt xông khói cũng như giảm thiểu các món chiên, món nướng và thay vào đó bằng món nhúng, món luộc, món hấp.

• Ngược lại, khẩu phần có nhiều cá biển, tỷ lệ ung thư ruột càng thấp. Bằng chứng là số người bệnh tiểu đường có 100g cá trong khẩu phần bị ung thư ruột chỉ bằng phân nữa nhóm đối chứng với thói quen “trọng thịt khinh cá!”

• Thầy thuốc ở Đại học Rush, Chicago đã chứng minh là chức năng tuần hoàn của người cao tuổi bị bệnh tiểu đường được cải thiện thấy rõ nếu họ được bồi dưỡng với cá biển giàu 3-Omega như cá mòi, cá hồi, cá thu… dù mỗi tuần chỉ một lần. Người bệnh tiểu đường nếu có thêm vấn đề với rối loạn biến dưỡng chất béo và bệnh tim mạch nên uống thêm thuốc có chứa dầu béo 3-Omega vừa dồi dào chất đạm lại không gây gánh nặng cho lá gan và trái thận.

• Cá nước ngọt thường không chứa nhiều 3-Omega, nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Đó là cá basa, tất nhiên với điều kiện cá không được vỗ béo bằng thuốc kháng sinh, với nội tiết tố tăng trưởng…

Đừng quên cảm giác thèm thịt cá là do cơ thể cần chất đạm. Tình trạng này càng rõ nét hơn nữa với người bệnh tiểu đường do rối loạn biến dưỡng chất đường bao giờ cũng kèm theo mất quân bình về chất đạm và chất béo. Muốn người bệnh đừng quá thèm thịt cần bổ sung chất đạm gốc thực vật từ đậu nành. Cũng đừng quên người bệnh tiểu đường rất cần khẩu phần đa dạng. Dùng thịt cá đúng cách nhưng quên rau quả là một thiếu sót đáng trách. Rau hay quả đều cần thiết cho người bệnh tiểu đường vì là nguồn cung cấp nhiều loại sinh tố. Tùy theo mức độ ổn định của đường huyết mà “đầu bếp” nên chọn nhiều rau hay quả cho bữa ăn của người bệnh tiểu đường.

• Nếu lượng đường trong máu còn dao động nhiều thì rau cải có lợi hơn trái cây. Trong lúc đường huyết đang trồi sụt vô chừng nên tránh các loại trái cây quá ngọt để tránh tăng đường huyết đột ngột như sầu riêng, mít, xoài, lồng mức…

• Nếu không đổi được thói quen tráng miệng bằng trái cây nên chọn loại trái chua, chát, ít ngọt như ổi, bưởi, thanh long…

Nếu đường huyết đã ổn định thì không việc gì phải cữ trái cây. Nhưng đừng quên một nguyên tắc tối quan trọng trong chế độ dinh dưỡng của người bệnh tiểu đường. Đó là đừng mạnh miệng với bất cứ món gì. Món nào cũng chút chút cho vui. Đừng quên, không riêng gì bệnh tiểu đường, hầu như bệnh nào cũng thế, cũng thương do quá thừa một chất nào đó trong khi chất khác lại thiếu.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Trích trong: Chương 1 – Sách: Nghệ Thuật Sống Đời Hạnh Phúc – của Dalai Lama
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD.Viên Lâm

Phần 1

Đó thực sự là một ngày dài dành cho Dalai Lama. Ngay khi Người vừa hoàn tất bữa điểm tâm đạm bạc của mình và dùng trà vào lúc 7:30 sáng, khi ấy Người đã trải qua bốn giờ đồng hồ thức giấc làm việc, hoàn tất thời gian biểu chặt chẽ của mình, gồm có đọc kinh, nghiên cứu và thiền định. Sau bữa điểm tâm Người bắt đầu công việc thường ngày của mình và một loạt những công việc trong ngày đang đợi Người: gặp gỡ hết người này đến người khác, đón tiếp một sĩ quan liên lạc thuộc chính phủ Ấn Độ, gặp gỡ vị thầy tăng dẫn đầu của một trong số những giáo phái thuộc Phật giáo Tây Tạng, gặp gỡ Tổng thống Nga, rồi đến một viên chức tha hương người Tây Tạng và nhiều thành viên thuộc văn phòng của Người. Và trong số này có những cuộc gặp gỡ cá nhân, tôi đã từng chứng kiến hình ảnh Người vui mừng đón tiếp những người Tây Tạng tha hương mới đến Ấn Độ. Họ đã thực hiện một chuyến đi gian khổ vượt qua dãy Himalayas bằng tất cả những phương tiện mà họ có thể tìm được, nếu họ may mắn thì họ có thể tìm được một chiếc xe buýt cũ kỹ nào đó, hoặc họ có thể quá giang những chiếc xe tải mục nát.


Một số đã phải đi bộ vượt qua biên giới gồ ghề chông gai, quyết tâm vượt qua những dãy núi cao ngất trời. thỉnh thoảng một đứa bé có thể bị mất một ngón tay hoặc ngón chân – do thời tiết quá sương giá. Nhiều người đến đây không một đồng xu dính túi, cơ cực nghèo đói trong trang phục chuba (loại trang phục truyền thống của Tây Tạng) nhàu nát và bẩn thỉu sau một chuyến đi dài. Những gương mặt già nua bởi sương gió và điều kiện khí hậu khắc nghiệt, mọi người đều thể hiện những đau khổ vô kể, tâm hồn chai sạn qua những năm tháng bị ngược đãi bởi người ngoài. Tuy vậy, tâm hồn họ như sống lại khi được trông thấy mặt Dalai Lama, giấc mơ đổi đời của họ, niềm hy vọng trong họ như chợt bùng lên khi được gặp gỡ Dalai Lama. Người trao cho họ, cả người trẻ lẫn người già, những lời hy vọng và khuyến khích, từ “Giáo dục là chìa khóa tiên quyết để thành công” cho đến “Các anh, là đàn ông, cần phải cẩn thận khi ra ngoài quan hệ với gái mại dâm – các anh có thể bị mắc bệnh đấy”.

Cuối cùng, vào lúc 2:00 chiều trong ngày của Người. Và đó là cuộc hẹn với tôi. Tôi được Người sắp xếp cho vài giờ đồng hồ vào buổi chiều để cộng tác cùng Người viết nên cuốn sách này, và tôi đã có mặt ở đây để trao đổi. Các cuộc thảo luận của chúng tôi không giống như những cuộc trò chuyện thân mật khác. Thực ra, tôi cũng không phải gây khó khăn cho Người lắm chúng tôi trang cãi nhằm hòa hợp giữa những triết lý Tây phương và Đông phương, tôi đặt ra vô số những câu hỏi khác nhau, trong số đó có một câu hỏi được Người cho là ngớ ngẩn hoặc không thể trả lời được, và chúng tôi cũng thường xuyên đùa tếu với nhau.

Đứng bên ngoài hành lang phủ đầy hoa giấy của Người, trong khung cảnh là những dãy núi Dhauladhar hùng tráng thuộc miền Bắc Ấn Độ, Dalai Lama chào đón tôi một cách nồng nhiệt khi Người dắt tôi vào trong nhà. Trong suốt hai mươi năm qua, căn phòng của Dalai Lama hầu như không thay đổi. Những bức tranh truyền thống của Tây Tạng, loại thanka, được treo rải rác trên những bức tường màu vàng xám, tại một góc phòng là bệ thờ được trang trí công phu, bên trong là một bức tượng Phật, một tấm bản đồ Tây Tạng lớn được dán lên bức tường đối diện. Thậm chí ngay cả những món trang trí nội thất cũng vẫn không thay đổi, ngoại trừ có lẽ chiếc trường kỷ đã được bọc lại.

Tôi cởi bỏ bao da chiếc máy tính xách tay của mình và dò dẫm tìm kiếm máy ghi âm của mình, chúng tôi ngẫu nhiên nói về những hoạt động của Người và những cuộc gặp gỡ của Người ở những ngày trước đó. Dalai Lama thường sắp xếp cuộc gặp với tôi vào khoảng cuối ngày của mình, vì thế tôi tha thẩn trong phòng khách để chờ đợi đến giờ gặp Dalai Lama, tôi thường có cơ hội quan sát những người đếm tìm gặp Dalai Lama. Vào ngày hôm ấy, tôi có ấn tượng với sự đa dạng về những người đến tìm gặp Dalai Lama, những người đếm tìm gặp Dalai Lama là những người đến từ mọi nơi trên thế giới.

Khi bắt đầu buổi thảo luận của mình, tôi nghĩ về điều này, và tôi nói: “ Ngài biết đấy, tôi không thể không có ấn tượng về sự đa dạng về những người đến tìm gặp ngài, mọi người ở mọi ngành nghề, mọi người ở mọi công việc. Và tôi đã suy nghĩ nhiều về việc ngài làm cách nào để có thể tham gia mọi loại hình hoạt động như thế. Vì thế, tuần này tôi muốn tập trung vào chủ đề công việc…”.

“Vâng. Tốt thôi”. Dalai Lama gật đầu.

“Và vì tuần này chúng ta sẽ nói về công việc, tôi hơi tò mò một chút, ngài nghĩ rằng đâu là công việc chính yếu của mình?”

Dalai Lama trông có vẻ bối rối. “Ý anh muốn hỏi điều gì?”

Tôi cũng bối rối vì không hiểu sao Người lại tỏ ra bối rối với câu hỏi này. Đây là một câu hỏi đơn giản thôi mà.

“Ồ, ở Tây phương”, tôi giải thích, “khi ngài gặp gỡ một người nào đó, câu hỏi đầu tiên ngài hỏi người lạ mặt đó là: “What do you do?”, câu hỏi này có nghĩa là, ‘Bạn làm nghề gì? Công việc của bạn là gì?’. Vì thế, nếu ngài gặp gỡ một người hoàn toàn lạ mặt và họ không biết ngài hoặc chưa từng bao giờ nghe nói về Dalai Lama và họ thậm chí còn không biết ngài là một thầy tăng, thì họ cũng xem là một người bình thường và họ sẽ hỏi ngài, ‘Ngài làm gì để kiếm sống?’, khi ấy ngài sẽ đáp lời như thế nào?”

Dalai Lama suy nghĩ một lúc trong im lặng và cuối cùng Người nói. “Không gì cả. Tôi không làm gì cả”.

Không gì cả? Tôi đưa mắt nhìn trừng trừng trong ngạc nhiên, còn Người lẩm bẩm với chính mình. “Nếu bất chợt tôi được người khác hỏi câu hỏi này thì có lẽ đó chính là câu trả lời của tôi. Không gì cả, tôi không làm gì cả”.

Không gì cả? Tôi không tin thế. Rõ ràng Người đã làm việc cật lực như mọi người đã biết, thậm chí là cật lực hơn mức bình thường rất nhiều. Năm ngoái, khi cùng tham gia chuyến rao giảng của Người tại Hoa Kỳ, tôi đã chứng kiến hình ảnh Người làm việc cật lực liên tục trong nhiều vai trò khác nhau: khi là một chính khách, Người đã gặp gỡ Tổng thống George W. Bush, thư ký liên bang Colin Powell, các Thượng nghị sĩ và các thành viên của Quốc hội. Khi là một người giảng dạy, Người được mến mộ vì là một học giả uyên thâm về lĩnh vực triết lý Phật giáo, Người dẫn giải các chi tiết về vô số những chủ đề khác nhau với mức độ sâu sắc lạ thường. Khi là người nhận giải Nobel Hòa bình người liên tục vận động không ngừng nghỉ vì nền hòa bình của thế giới cũng vì nhân quyền, Người đã tham gia hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn những buổi rao giảng trên toàn thế giới. Là một nhà lãnh đạo tôn giáo Người luôn cố gắng tìm cách hòa hợp mọi tôn giáo với nhau, Người đã gặp gỡ tiếp xúc những nhân vật tín ngưỡng cấp cao từ mọi tôn giáo: linh mục, giáo sĩ Do Thái, mục sư, và các thầy giảng đạo Ấn Độ. Người đã gặp gỡ trao đổi cùng các nhà khoa học, các vị học giả, những người chiêu đãi, những người nổi tiếng và cả những người vô danh. Người làm việc từ sáng đến tối, di chuyển từ thành phố này đến thành phố khác. Và những cuộc hẹn gặp gỡ đó thường không phải là do Người chủ động sắp xếp, mà là những lời mời từ những người khác. Và một điều nổi bật hơn hết là – là bất kể thời gian biểu làm việc của mình có chặt chẽ bận rộn cách mấy, Người vẫn dễ dàng hoàn tất hết mọi công việc. Người luôn làm việc trong vui vẻ.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 24/06/2009

VÙNG KÝ ỨC

THUẦN CHƠN
Nguồn: Báo Giác Ngộ 486
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

Mùa này, buổi chiều thường hay có mưa, mưa rào rạt một lúc rồi tạnh liền, lại hửng nắng vàng. Gió rất nhẹ, làm lay lay những bông hoa mận cạnh vườn, rồi rơi tả tơi thành một vùng trắng xóa trước sân. Lũ trẻ lơ mơ nhớ về những lời dạy của Sư sáng nay, có những điều, những khái niệm bọn chúng chưa thật sự nắm bắt được, nhưng vẫn cười, vẫn nói, rộn ràng và giòn tan.

Lớp học thật đông, lũ trẻ có khuôn mặt thật hồng, còn lấm lem bụi đất sau một quãng đường vượt đồi đến đây. Ngày đầu tiên, bọn chúng nhìn nhau bỡ ngỡ, xa lạ, đứa này lom lom nhìn đứa kia, vẻ mặt lầm lì cố hữu, không đứa nào mở miệng nói câu nào. Vậy mà, bây giờ thì đã như quen thân nhau lắm rồi, buổi học nào thiếu ai là bọn chúng nhận ra ngay.


Cũng là buổi học đầu, Sư ngồi chơi với lũ trẻ hết một buổi sáng. Sư kể những câu chuyện về tiền thân Đức Phật rất thú vị, bọn trẻ ngồi ngẩn người nghe một cách say sưa. Con suối bên cạnh cái am tranh nhỏ nơi Sư thường tĩnh tu, một vài chú cá nhỏ quẫy đuôi nghe tiếng nước bắn trong veo, nhìn ra con đường trúc xanh phía trước, chợt nhớ một thời Đức Phật ở Trúc Lâm tinh xá, ru hồn lũ trẻ vào một cõi xa xưa mà sống động vô cùng. Hình như có những năng lực nào đó khiến cho cái lợp học nhỏ của Sư phụ và những “đệ tử” con nít, khi nào cũng có được cảm giác trang nghiêm nhưng thật ấm áp và gần gũi.

Lớp học có bốn chị em có bốn cái tên rất dễ thương: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Chúng không phải là chị em ruột của nhau, mà gặp gỡ nhau dưới một mái ấm tình thương rồi kết nghĩa chị em. Không biết chúng kết thân từ lúc nào, chỉ biết khi Sư nghe kể thì chúng đã thân thiết với nhau lắm rồi. Hàng ngày ngoài công việc thường nhật phải làm ở trại trẻ, thường chúng rất ít khi rời nhau, ngay cả việc rủ nhau đến lớp học này, bốn mùa khi nào cũng ngồi chung một cái bàn, đó là “ranh giới” bất khả xâm phạm của chúng. Mỗi đứa trong lớp học đều có một hoàn cảnh riêng, rất dài, rất buồn, điểm gặp gỡ chung của chúng là khi mái ấm tình thương bên kia đồi, nơi nuôi dưỡng hàng trăm trẻ em cô đơn, bất hạnh, không nhà.

Sư cũng mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhưng Sư may mắn được lớn lên và trưởng thành trong tình yêu thương của thầy. Rồi một ngày vị thầy ra đi về cõi Phật, Sư lại một mình cất bước du phương, đến nơi phố hoang sơ này, dạo ấy còn thanh vắng và hoang dại lắm. Phần lớn người dân phố núi rất nghèo, rất cơ cực, họ chưa hiểu nhiều về giáo lý nhà Phật. Lũ học trò thì thường ngây ngô kháo nhau: “Sư phụ hiền như ông Tiên, kể chuyện về ông thần Phật rất hay”. Sư lại mỉm cười nhìn chúng, bao dung như một “ông thần Phật” nên có đứa tranh thủ lúc ba nó sau khi đi uống rượu về, lăn quay ra sân nằm ngủ ngáy khò khò, nó quáng quàng mặc vội chiếc áo học trò đã ngã sang màu úa vàng, lao đến chiếc am tranh nghe kể chuyện. Có đứa vội vàng quá khi vào lớp vấp ngã, rớt lại một chiếc dép bên ngoài khóm trúc xanh làm những đứa khác cười ồ. Sư biết ở cái tuổi ăn, tuổi chơi công với bao gian khó nhọc nhằn thường nhật, có thể lũ trẻ chưa hiểu nhiều về Đạo Phật, nhưng với tâm trẻ con, ngây thơ, chấc phát và hồn nhiên như vậy, Sư đã dần dần dẫn dắt cho chúng những bước đi cơ bản đầu tiên trên con đường đến với Tam bảo.

Những ngày đã qua, thật bình yên. Hàng ngày, sau giờ Sư đi khất thực vào mỗi buổi sớm, còn lại thời gian Sư dạy bọn trẻ học giáo lý nhà Phật. Sư dạy cho chúng biết thế nào là Phật, Pháp, Tăng, là quy y Tam bảo, là nghiệp hay nhân quả, luân hồi… Rồi chúng dần dần được Sư chỉ bày cách niệm Phật, ngồi Thiền… am tranh nhỏ trở nên chật chội hơn so với số “thiền sinh” nhỏ tuổi. Sư mở rộng không gian ra ngoài vườn trúc, bên chiếc ao nhỏ có những bông hoa súng dại và dây leo rừng bò quanh. Các em đã biết thế nào là ngồi bán già, kiết già.. mặc dù thời gian không lâu, chỉ một chút là chúng đã bắt đầu ngọ nguậy, mắt nhắm mắt mở không yên nhưng Sư biết, với chúng, đó là những sự nỗ lực rất lớn. Con nít mà… Rồi có những ngày vì “mê” ngồi thiền quá mà các bà mẹ tất tả chạy đi tìm con, rồi thở phào nhẹ nhõm khi thầy chúng ngồi ngồi “trầm tư mặc tưởng” bên cạnh một ông Sư áo vàng trong khu vường trúc râm mát. Bên cạnh chiếc ao nhỏ, gió thổi nhè nhẹ làm tóc lũ trẻ hay hay phất phơ, nắng đùa chơi trên những bông hoa mận làm cho cảnh vật trở nên đẹp đẽ và nên thơ đến lạ. Những lúc như vậy, các bà mẹ lại lặng người nhìn ngắm, rồi khẽ khàng ngồi xuống trong im lặng, thỉnh thoảng lại đưa ánh mắt lạ lẫm nhìn xung quanh, vừa chắp đôi bàn tay gân guốc, chai sạn nắng mưa lên trước ngực, vừa lẩm nhẩm theo một danh hiệu Phật mà mơ hồ không biết đã đúng hay chưa. Có người, những lần khác, rụt rè đến chỗ Sư, mang theo một ít gạo, muối, một ít măng rừng khô. Sư lại mỉm cười, trầm mặc chỉ cho họ những cách thức đầu tiên của việc cúng dường.

Nhiều năm trôi qua, ngôi thất nhỏ ngày nào giờ đã được xây dựng thành một ngôi chùa rất đỗi khang trang, cũng chênh vênh giữa phố núi, bao quanh là những ngọn núi cao chót vót, trùng điệp. Ở đó bây giờ đã có những Thiền đường, điện Phật lớn, số Tăng sĩ cũng đã tăng lên nhiều. Chiếc ao nhỏ ngày nào đã biến thành một hòn non bộ hùng vĩ, bên trên được đặt một bức tượng Bổn sư lộ thiên. Chỉ rặng trúc xanh ngát là vẫn còn đó, được uốn theo con đường nhỏ lát đầy những viên gạch xanh lưu ly dành cho khách thập phương đến lễ Phật, vãng cảnh chùa.

Hình ảnh ngày xưa của một vị Sư áo vàng, giờ không còn nữa. Nghe nói, sau khi nhắn gởi lại những điều cần thiết ngắn gọn với những người đệ tử của mình, Sư lại cất bước ra đi. Ngày Sư đi, không có lũ trẻ ngày xưa với tiếng cười hồn nhiên và những ánh mắt trong veo ngày nào, bọn chúng giờ đã lớn và tản mác mỗi đứa một phương. Chỉ có những đứa trẻ có để cơ duyên trở thành đệ tử Sư thì đưa tiễn Sư nhưng Sư cũng chỉ cho tiễn một đoạn. Khi vừa cất bước đến đầu rặng trúc xanh vừa qua khỏi cổng chùa, Sư quay đầu lại, mỉm cười độ lượng rồi lại bước đi. Lần này thì thật sự, không ai biết Sư đã đi đâu, và đến chốn nào…

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

PHAN MINH ĐỨC
Nguồn: Báo Giác Ngộ 482
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

Kinh Tứ Thập Nhị Chương có thuật chuyện Đức Phật hỏi các thầy Tỷ kheo:

– Đời người sống bao lâu?

Một thầy đáp:

– Trong vài ngày.

Đức Phật lắc đầu bảo:

– Ông chưa hiểu đạo.

Một vị khác nói:

– Trong khoảng một bữa ăn.

Đức Phật cũng lắc đầu bảo:

– Ông chưa hiểu đạo.

Một vị khác nói:

– Đời người trong hơi thở.

Đức Phật khen vị ấy rằng:

– Hay thay, ông mới là người hiểu đạo.

Thế gian thường bảo đời người trăm tuổi, nhưng thử hỏi mấy người sống đến trăm năm? Đỗ Phủ nói: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” (Người sống đến bảy mươi xưa nay hiếm). Y Vân bảo đời người sống được sáu mươi năm (Em ơi có bao lâu, sáu mươi năm cuộc đời). Cổ nhân nói: “Sơn trung tự hữu thiên niên thụ, thế thương nan phùng bách tuế nhân” (Trong núi có cây sống ngàn năm, trên đời khó gặp người trăm tuổi).

Có lẽ vì đa phần thế gian cho rằng đời người dài lâu, một trăm năm hoặc chí ít cũng mấy mươi năm, cho nên tạo dựng cơ đồ, tích chứa của cải bạc tiền để hưởng thụ trong hiện tại và tương lai. Nhưng Đức Phật nói đời người chỉ trong hơi thở, ai hiểu được điều này là người đó thấy đạo, đạo ở đây là chân lý, là sự thật về đời người.


Đức Phật bảo đời người mong manh ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn trong một hơi thở, thở vào mà không thở ra hoặc thở ra mà không thở vào là đời người kết thúc, ai biết chắc mình sống được bao lâu? Tai nạn, bệnh tật, những bất trắc luôn rình rập đe doạ mạng sống con người, cái chết có thể đến với chúng ta muốn hay không muốn. Khi cái chết đến, chúng ta không thể hạn lại ngày giờ, chúng ta không thể dùng tiền bạc của cải để mua chuộc, đánh đổi mạng sống, không thể dùng quyền lực để giữ sinh mạng, dùng tình cảm để níu kéo sự sống, chúng ta cũng không thể chạy trốn, né tránh cái chết dù chúng ta có không ngoan, tài giỏi đến đâu.

Trong kinh Pháp Cú Thí Dụ có kể câu chuyện bốn anh em dòng họ Phạm chí chạy trốn cái chết như sau:

Có bốn anh em dòng họ Phạm chí tu tập chứng đắc được Ngũ thông, mắt họ có thể thấy và tai họ có thể nghe xa vạn dặm, họ có thể đoán biết quá khứ vị lai, có thể đọc được suy nghĩ của người khác, họ đi trong nước, bay trên không như đi trên đất… Nhờ có thần thông mà họ biết trước ngày giờ chết của mình. Sắp đến ngày mạng chung, bốn anh em Phạm chí họp lại bàn cách chạy trốn cái chết, họ nói với nhau:

– Cái chết đến, người khác khó tránh, nhưng bọn chúng ta có đại thần thông, nhất định sẽ tránh được. Bây giờ chúng ta hãy chia nhau chạy trốn.

Bàn tính xong, một người dùng thần thông bay lên không trung, một người dùng thần thông lặn xuống đáy biển, một người ẩn mình trong núi lớn, người còn lại trà trộn vào đám đông giữa chợ, họ định bụng chờ qua khỏi ngày đó thì trở về.

Đến ngày chết, người trốn lên không trung tự dưng rơi xuống đất chết, người trốn dưới biển sâu cũng mất hết thần thông mà chết nổi lên, còn người ẩn mình trong núi và người trốn giữa đám đông cũng lăn ra chết.

Mọi người biết chuyện đó đều không khỏi kinh hoàng và hiểu rằng không có cách gì ngăn chặn được sự vô thưởng, không có cách gì làm thay đổi quy luật sinh, già, bệnh, chết.

Thật ngây thơ, nông cạn khi cười cợt cái chết, nghĩ rằng mình khoẻ mạnh, sống lâu, giàu sang, quyền thế, thông minh, tài trí… mà quên rằng mọi thứ luôn biến đổi vô thưởng. Khi cái chết đến mọi thứ đều trở nên vô nghĩa.

Ai cũng sẽ phải chết và không biết chết lúc nào. Vì thế, sống sao cho thật ý nghĩa, không lãng phí đời sống mới là việc cần làm hơn là ngồi chờ cái chết đến, đánh mất thời gian, công sức vì những việc vô ích không đâu. Có nên đầu tư tất cả tâm trí vào những tính toán hơn thiệt, tranh chấp hơn thua? Có nên nuôi dưỡng trong lòng những mưu đồ, tham vọng bất chính? Có nên ôm giữ những thù hận oán hờn? Thật không nên, bởi như thế là lãng phí đời sống, quên bỏ hạnh phúc trong hiện tại, làm như thế là đem phiền não khổ đau như lo lắng, muộn phiền, đố kỵ, oán ghét, hận thù … sẽ làm cho cuộc đời chúng ta mất an vui và hạnh phúc. Khi cái chết gần kề, người ta mới thấy rằng bao nhiêu ân oán tình thù, những điều mà từ lâu ta luôn canh cánh trong lòng đều như sương khói. Có một câu nói rất hay: “Đời người như một cuốn sách, điều quan trọng không phải là cuốn sách dài hay ngắn mà ở chỗ cuốn sách đó hay hay dở”. Vì thế, hãy sống tích cực, sống trọn vẹn với thời gian, với những gì đang có, sống thật vui vẻ, có ý nghĩa và hữu ích. Hãy nỗ lực làm những gì có ích cho mình và mọi người, phục vụ và cống hiến, để đời sống dù có mong manh, ngắn ngủi cũng trở nên có ý nghĩa và giá trị.

Đức Phật dạy chúng ta nên quán niệm về cái chết. Chết là một trong mười đề mục quán niệm (thập niệm). Quán niệm cái chết để dừng lại những tham muốn, dục vọng, xả bỏ tâm thù hận oán hờn, dứt trừ lòng kiêu căng tự phụ… Quán niệm cái chết để biết tận dụng đời sống của mình tinh tấn tu hành làm lợi ích cho mình và tất cả chúng sanh. “Ngày nay đã qua, mạng sống giảm dần, như cá cạn nước, nào có vui chi. Mọi người cần phải tinh tấn như cứu lửa chạy đầu, luôn nhớ nghĩ lẽ vô thường, chớ nên chậm trễ biếng nhác” (Thị nhất dĩ quá, mạng diệc tuỳ giảm, như thiểu thuỷ ngư, tư hữu hà lạc? Đại chúng đương cần tinh tấn, như cứu đầu nhiên, đản niệm vô thường, thận vật phóng dật), đó là lời kệ nhắc nhở mà người đệ tử Phật đọc tụng mỗi ngày.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 24/06/2009

Nụ cười Phật đản sanh – Lê Đàn

LÊ ĐÀN
Nguồn: Báo Giác Ngộ 483
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

“THáng mười sấm rạp, tháng Chạp sấm ra, tháng Ba sấm vào”. Tiếng sấm tháng Ba chỉ là dự báo, chưa đủ làm nên một trận mưa giông vì “rét tháng Ba, bà già chết cóng”, hay còn gọi là rét nàng Bân. Cái lạnh cuối mùa xuân rồi cũng qua đi, trời đã bước sang mấy ngày đầu hạ, xuất hiện sớm những cơn gió Lào hanh khô nóng bức. Cái thị xã nhỏ bé này, gió Lào nắng lửa, gió bấc mưa dầm, cứ sống mãi riết rồi thành quen. Nắng ban mai chói chang làm đẹp thêm những con phố mới rực rỡ cờ xí, đèn lồng đủ loại, người ta bày bán phục vụ cho ngày lễ Phật đản gần kề.


Tôi cũng chuẩn bị như mọi năm, trước cổng treo đèn ông sao, đèn lồng xen kẽ cờ năm sắc. Tôi vẽ một tượng Phật đản sinh mới, treo lên phía trên cùng. Ông bạn đạo ngắm nghía một lúc rồi tấm tắc khen: “So với mấy năm trước, lần này ông vẽ nụ cười của Đức Phật đạt lắm”.

Có lẽ những ai cầm cọ vẽ Đức Phật sơ sinh cũng cảm thấy rất khó khi vẽ nụ cười bí hiểm của nàng Mona Lisa (một bức tranh nổi tiếng của danh họa người Ý, Leonard De Vinci).

Ông bạn đạo mới nhắc đến nụ cười, thật là trùng hợp vì buổi sáng một người bạn vừa email cho tôi, anh ta gửi kèm tặng tôi câu chuyện “Ý nghĩa nụ cười” rất hay.

Câu chuyện kể về một ông chủ kinh doanh nọ sang Nhật Bản công tác. Tuy là người thành đạt nhưng ông rất khiêm tốn và luôn chia sẻ thành công với nhân viên của mình. Sau khi hoàn tất công việc, ông đến diêu thị để mua các món quả cho nhân viên của mình trước khi về nước.

Khi ông bước vào siêu thị, một phụ nữ dáng vẻ nhỏ nhắn đón chào ông bằng một nụ cười nồng ấm khiến ông rất cảm động, hài lòng và không thể quên thái độ thân thiện đó. Trong khi mua sắm, thỉnh thoảng ông liếc nhìn người phụ nữ kia, cô đều dành nụ cười tươi như thế cho mọi khách hàng.

Nhà kinh doanh nọ bắt đầu tìm hiểu tại sao người phụ nữ ấy nhận làm một công việc đứng cười mãi suốt ngày như thế mà không nhàm chán? Và cô lại nở nụ cười trả lời:

– Vâng, thưa ông! Tôi cười với tất cả khách hàng đến đây để họ thấy hài lòng và thoải mái. Khi đó, họ sẽ mua sắm nhiều hơn, ông chủ tôi sẽ vui hơn, và tôi sẽ được trả lương nhiều hơn. Do đó, tôi có thể chăm sóc gia đình tôi và mang hạnh phúc đến cho họ. Hơn nữa, khi đông khách hàng, nhu cầu hàng hóa sẽ tăng lên, sẽ cần có thêm nhiều nhà máy và nhiều công ăn việc làm được tạo ra, mọi người trên đất nước tôi đều được hạnh phúc. Không chỉ thế, vì phần đông khách hàng của tôi là người ngoại quốc, nên sẽ có thêm cơ hội giao thương với nước ngoài, như thế nước tôi sẽ ngày càng thịnh vượng hơn. Những người như ông sẽ đến nước tôi thường xuyên hơn vì ông hài lòng với chúng tôi và có thể ông sẽ kể về chúng tôi với bạn bè và gia đình ông. Thế nên, đất nước chúng tôi sẽ có thêm nhiều du khác, nhiều ngoại tệ, nhiều việc làm, và nhiều người sẽ được hạnh phúc. Như vậy là tôi đã cống hiến cho đất nước mình rồi!

Nhà kinh doanh nọ hết sức ngạc nhiên và khâm phục thái độ, suy nghĩ của người phụ nữ về công việc mà cô đang làm. Ông về nước truyền đạt thái độ ấy cho các nhân viên của mình. Đến hôm nay, công ty của ông đã trở thành một trong những công ty tiếng tăm nhất thế giới cũng nhờ biết trao tặng nụ cười.

Nụ cười có ý nghĩa quan trọng như vậy đó, nếu không có nụ cười thì thế giới này buồn tẻ biết bao! Như khu vườn không hoa nở, như trái đất chẳng có mùa xuân. Nhà kinh doanh đã thành công khi biết cách dùng nụ cười trong việc giao tiếp với khách hàng, vì khách hàng là thượng đế, nên luôn tìm cách làm vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khách hàng bỏ ra một số tiền mua được một món hàng vừa ý đúng giá, lại được khuyến mãi một nụ cười tươi mới của một cô gái trẻ thì thật là thú vị! Người nghĩ ra điều này là một bậc thầy rất giỏi.

Ai cũng thích có một cuộc sống vui vẻ, khi gặp nhau sẵn sàng trao nhau nụ cười thân ái hữu nghị. Giá cả hàng hóa thì nơi nào cũng giống nơi nào, nhưng chắc chắn một điều là người ta tìm tới để mua sắm những nơi vui vẻ, thoải mái như ở siêu thị trong câu chuyện trên.

Cười có khó gì đâu, mới sinh ra đã tự khắc biết khóc cười, khi vui thì tự nhien mỉm cười, rất dễ dàng có gì khó đâu! Nhưng cười được như người phụ nữ trong siêu thị kia không phải dễ. Cô ấy được tuyển chọn và đào tạo rất kỹ càng. Cười cũng phải biết cách cười mới có ý nghĩa của nó. Cười cũng phải đúng nơi đúng chỗ, nếu không thì nụ cười sẽ không có ý nghĩa gì cả. Người xưa dạy chữ “Dung” trong công dung ngôn hạnh (Tứ đức): “Dung là nét mặt đoan trang. Không tha thướt, không cười lã chã”.

Người phụ nữ “cười” trong siêu thị kia cười được với cái tâm trạng cống hiến cho tổ quốc, quả thật đáng khâm phục! Vì mấy ai có đủ lòng kiên trì ngày này qua ngày khác, tháng nọ đến năm kia; chỉ làm mỗi công việc là đứng cười chào khách hàng. Công việc rất là đơn điệu, dễ nhàm chán; mỗi ngày cô ta cười với không biết bao nhiêu khách hàng đến siêu thị. Cô không nhàm chán mà ngược lại cô làm công việc ấy rất nhiệt tình và hết lòng, nụ cười của cô luôn tươi mới chân tình, như một lời cám ơn ngọt ngào với khách hàng đã ghé thăm, dù chỉ để ngăm thôi không mua gì cả, họ cũng được cô gái kia trao tặng một nụ cười thân thiện, đầy hoan hỷ. Nụ cười của cô làm cho quý khách hàng hài lòng và thoải mái.

Nếu so sánh “nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” thì cũng không hề sai tí nào. Để có nụ cười, đôi lúc người ta phải bỏ tiền ra mua một vé xem hài kịch ở rạp. Khi tâm chúng ta thảnh thơi vui vẻ mới có thể nở được nụ cười .

“Tâm nhàn mọi sự thông ba cõi
Một tiếng cười khan ấm đất trời”

(Thích Nhật Từ)

Khi tâm có nhàn thì mới có được tiếng cười khan ấm cả đất trời, ấm cả lòng người.

Tôi nhớ đến nụ cười của ngài Ca Diếp trong bài “Niêm hoa tâm kệ” của Thiền sư Chân Nguyên:

Thế Tôn xuất hiện đại nhân duyên
Ca Diếp hợp cơ được ấn truyền
Đưa hoa mỉm cười vẫn còn đấy
Lá rụng hương thơm khắp đại thiên

Đức Thế Tôn đưa cành hoa, Tổ Ca Diếp nhìn rồi mỉm cười, như vậy Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ca Diếp là truyền cái gì? Chỉ là sự cảm thông nhau. “Đưa hoa mỉm cười vẫn còn đấy”, hình ảnh Đức Phật đưa cành hoa, Tổ Ca Diếp mỉm cười đến nay vẫn còn đó không mất. “Lá rụng hương thơm khắp đại thiên”, ngày xưa chỉ có Đức Phật và ngài Ca Diếp, mà nay nơi nào cũng có hình ảnh “Niêm hoa vi tiếu”, đem lại sự an lành tốt đẹp cho nhiều người.

Đời là bể khổ trầm luân vui ít khổ nhiều, Đức Phật nói rằng tiếng khóc của chúng sanh vọng xa ra ba ngàn thế giới; nước mắt của chúng sanh đong đầy bằng biển cả đại dương. Vui thay Phật đản sanh, người là đáng Cha lành cứu độ nhân loại, Người ban vui cứu khổ đem đến tiếng cười cho chúng sanh. Nụ cười của kẻ phàm phu chỉ biểu lộ giới hạnh trong cái thất tình lục dục, còn nụ cười của bậc Giác ngộ mới mầu nhiệm làm sao!

Đêm nay quỳ dưới chân Như Lai, tụng kinh kính mừng Đức Phật chào đời. Chắp tay búp sen người nhìn lên Thế Tôn đang mỉm cười, vầng hào quang lấp lánh chiếu sáng cả hồn con. Câu kinh Bát Nhã dồn dập, 260 chữ Tâm kinh cô đặc bốn chữ “Ngũ uẩn giai không”.

Kính lạy đức Thế Tôn! Con đã nở được nụ cười. Con, một gã phàm phu tội lỗi, đang chập chững trở về cố hương. Xin Ngài gia hộ cho con có đủ niềm tin và cho con mỗi ngày luôn khởi đầu:

“Thức dậy miệng mỉm cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời”

(Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 24/06/2009

Ngồi buồn nhớ truyện Tây Du

THƯ TRUNG
Nguồn: Báo Mực Tím 883
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

Truyện và phim Tây Du Ký có sức hấp dẫn người đọc, người xem nhiều thế hệ do tính chất vui, trào phúng và các tình tiết li kì khó đoán của nó. Ngoài ra nó còn hấp dẫn hơn nhờ vào 4 nhân vật chính trong đoàn Tây du.


Trước hết, nhận vật Trư Bát Giới vốn là vị Thiên Bồng nguyên soái bị đày xuống làm … heo chỉ vì thiếu đứng đắn với phụ nữ. Hình hài dị dạng, tính tình trẻ con, ưa nạnh hẹ, chuyên gia “bùi lan”, háo ăn và “hảo ngọt”, Trư còn có tính … hay “đâm thọc” với thầy trưởng đoàn, Nhưng Trư không thâm hiểm, lại vui nhộn, nhờ đó mà cuộc trường chinh bớt phần căng thẳng. Điều đáng suy ngẫm là Trư sống theo bản năng và phải chăng ông là một phần trong bốn phần không thể thiếu của một con người: cái thân xác? Ba phần tư của một con người hoàn chỉnh còn lại phân bố trong tính cách của Tôn Ngộ Không, Sa Tăng và Đường Tăng. Con đường thỉnh kinh quá sức gian nan, nếu không có Ngộ Không thì liệu đoàn có được bình an trước bao nhiêu yêu quái – tượng trưng cho cái ác? Có 72 phép thần thông, Tôn Ngộ Không là người tài giỏi nhất trong bốn người. Tôn, phải chăng là cái trí của một con người? Đường thỉnh kinh khác chi đường đời, vô cùng gập ghềnh trắc trở, không có cái trí để vượt qua thì e khó lòng thực hiện được ước mơ. Mà có trí, có tài thường hay kiêu căng, đôi khi độc ác cho nên trên đầu của Thạch Hầu mới bị Phật bà ém cho một vòng kim cô như một cái thắng trong xe có động cơ. Biết bao lần, vì không nghe lời đệ tử Tôn Ngộ Không (không theo cái trí) mà Thầy Tam Tạng đẹp trai suýt bị ăn thịt hoặc phải … làm chồng nữ yêu quái! Công bằng mà nói, Thầy là người gánh trọng trách vua giao nhưng Đường Tăng không đủ tài trí cho một nhiệm vụ như vậy. Như thế, Thầy có cái gì? Đường Tăng là cái tâm cao cả, một từ tâm hiếm có và nhờ đó mà ông không nề gian khổ quyết thỉnh cho được bộ Kinh để cứu chúng sinh. Quên mình vì đời chính là cái cao cả nhất của nhân vật này. Chữ Tâm cần gắn với chữ Tài và cả hai “chữ” này chỉ có con người mới có. Và cuối cùng, coi phim Tây Du Ký hẳn không ai quên được đai vác, cửu vạn gánh tất cả hành lí, lương thực cho cả đoàn. Đó là Sa Tăng Ngộ Tịnh – nhân vật ít nói, ít hành động nhất trong truyện. Một gánh trên vai, không càu nhàu ( như Trư Bát Giới), Sa Tăng, chính là đức nhẫn, phần hoàn toàn không thể không có trong cuộc sống. Nhà văn Ngô Thừa Ân của Tây Du Ký đã tạo ra một bộ truyện lớn hơn nhiều người tưởng, nó không chỉ là truyện để giải trí mà còn là đọc để suy ngẫm.

Bản năng + trí tuệ + cái tâm + nhẫn nại = con người hoàn chỉnh. Bốn thứ này nằm ở bốn nhân vật chính, luôn bổ sung cho nhau để đi đến đích. Đó cũng là sức hấp dẫn mà Ngô Thừa Ân mang đến cho mọi người ở mọi thời.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 24/06/2009

Nâng Đỡ – Minh Niệm

MINH NIỆM
Nguồn: Báo Giác Ngộ 489
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

Bàn tay từ ái

Có những lúc ta rơi vào vũng lầy đau khổ tuyệt vọng, hay bối rối hoang mang trước khúc quanh của cuộc đời, thật không có chi bằng khi có một cánh tay tình thương đưa tới cho ta tựa vào và truyền thêm sức mạnh, để vết thương trong ta được xoa dịu, để nguồn sống trong ta được đánh thức và giúp ta vượt qua những đoạn đường nghiệt ngã. Bàn tay ấy tuy không phải là phép màu, nhưng nó có chứa chất liệu của tình thương, nó có mặt một cách một cách kịp thời và hợp lý để xâu kết những điều kiện có sẵn của một sức sống tiềm tàng trong ta bừng dậy. Đó là bàn tay nâng đỡ mà ai cũng cần ít nhất vài lần trong đời, vì sống trong đời sống này có mấy ai luôn mỉm cười thanh thản trước những thay đổi bất chợt?


Khi em ngã thì anh nâng, khi anh ngã thì em nâng, nếu em và anh có liên hệ có tình thương và có sẵn một khả năng để nâng đỡ. Dù đó chỉ là một hành động lắng nghe chăm chú, một lời động viên an ủi, hay một thái độ bao dung tha thứ cũng có thể làm cho tình trạng của kẻ trong cơn nguy khốn được lành lặn và chuyển hóa. Ta không thể nói ta không cần ai hết, bởi ta không thể đi một mình trong cuộc đời này. Vậy mà có những lúc vì tự ái, vì muốn khẳng định mình, vì thiếu chín chắn, ta đã dại dột tuyên bố những điều hết sức nông cạn như vậy. Nhưng sự thật ta chưa bao giờ ngưng tiếp nhận niềm tin yêu từ những người thân, ta chưa bao giờ sống được mà không có sự nâng đỡ của đất trời hay vạn vật chung quanh, dù có khi sự nâng đỡ đó được thể hiện trong vô tướng.

Vậy nên những khi ta đang vững vàng thì hãy nhìn chung quanh mình, nhìn xuống thật gần để xem có ai đang cần tới bàn tay nâng đỡ của mình không? Đó là cái nhìn của một người trải nghiệm, đã từng thấm thía nỗi đau tột cùng khi không kịp lấy lại sức vì vấp ngã. Đó là cái nhìn của một người hiểu biết, nắm vững được nguyên tắc điều hợp vũ trụ: có cái này nên mới có cái kia, nếu cái kia tàn hoại thì cái này cũng bị lãnh đủ. Tuy ta đưa cánh tay đến để nâng đỡ đối tượng kia, nhưng kỳ thực là ta cũng đang nâng đỡ chính mình. Tuy ta đang tạo ra những năng lượng an lành để bảo vệ mầm sống chung quanh, nhưng đích thực là ta đang bảo vệ đời sống của chính mình. Vì vậy cánh tay nâng đỡ đó phải là cánh tay của từ ái, của tình thương không điều kiện hoặc rất ít những điều kiện.

Mà tại sao ta muốn người kia phải làm cái gì đó cho ta thì ta mới chịu cứu giúp, trong khi ta đã thấy rõ tình trạng khốn khó mà họ đang gánh chịu và con tim ta đã rung động chân thành? Họ đang đuối sức và cần ta, chứ họ không thể phục vụ gì thêm cho ta nữa. Ta hãy giữ vững niềm rung cảm chân thành ban đầu, đừng để cho ý niệm ích kỷ toan tính chen vào, đừng để cho những lời bàn tán vô trách nhiệm làm khuynh đảo. Nếu thấy mình vẫn còn đủ năng lực thì hãy chia sớt cho người kia một phần. Phần nhận được không chỉ làm hồi sinh cho chính kẻ ấy, mà hồi sinh cho cả năng lực tâm từ trong ta nữa. Tại vì ta vốn có sẵn một trái tim thương yêu rất lớn, lớn đến mức không biên giới, nhưng nếu không có những mảnh đời trái ngang kêu cứu thì tâm từ ấy sẽ không thoát thai được.

Thái độ nâng đỡ

Trong liên hệ thương yêu, không phải lúc nào người kia cũng cần ta mang thêm thứ gì lớn lao cho họ, cái họ cần đôi khi chỉ là sự có mặt đích thực của ta. Ta nói ta thương họ mà cứ đi biền biệt hoài, chỉ biết điện thoại hay gửi tin nhắn hay những lần gặp gỡ vội thì người kia trở nên héo tàn là phải. Ta phải có mặt bằng cả con người của mình, cả thân lẫn tâm, một sự có mặt đầy vững chãi và thảnh thơi để cho người kia thấy được sự hết lòng của mình và cả giá trị của họ trong mắt mình. Cho nên lâu lâu ta cũng nên dành trọn một buổi hay một ngày để ngồi chơi với người thân, dù không phải làm điều gì đặc biệt, chỉ im lặng mỉm cười hoặc tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc trong tâm người ấy bằng những lời lẽ chân thành sâu sắc là ta đã tặng cho họ món quà rất lớn rồi.

Cuộc sống bận rộn quay cuồng nên ta dần đánh mất thói quen công nhận hay khen tặng người khác, dù họ rất xứng đáng. Trái lại, vì ta đã bỏ ra quá nhiều năng lực và cảm xúc cho việc tích góp danh vọng, nên lúc trở về với những người thân ta bỗng trở thành đứa bé vô trách nhiệm hay vòi vĩnh những điều hết sức ngây ngô, hoặc thậm chí ta còn dễ dàng chê trách những chuyện không đâu, gây áp lực nặng nề cho kẻ khác. Lẽ dĩ nhiên có những lúc ta cần được nâng đõ, nhưng nếu ta nghĩ là họ phải có trách nhiệm đem tới nguồn tinh thần cho ta, đổi lại ta sẽ mang thật nhiều tiện nghi vật chất về cho họ thì ta đã sai lầm. Khó có ai có thể sống vững mà không được quan tâm, không được công nhận.

Vậy nên thỉnh thoảng ta hãy hỏi người kia có gặp khó khăn gì cần ta nâng đỡ không? Sống chung với một người mà lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng ra để nâng đỡ, lúc nào cũng có sẵn trên môi câu nói: “Có cần tôi nâng đỡ gì không?” thì hạnh phúc biết chừng nào. Ta đừng sợ nói ra thì người kia sẽ vắt kiệt năng lượng của mình. Không đâu, ta hãy cứ thực tập đi rồi ta sẽ thấy ta đã thừa hưởng hạnh phúc ngay khi ta mở miệng nói câu ấy rồi, huống chi vẫn còn tùy ở khả năng đang có mà ta trọn quyền định liệu. Điều quan trọng là ta có thiện chí muốn chia sẻ tình thương đến mọi người, luôn muốn mọi người hạnh phúc hơn, tức là ta đã làm được điều con tim muốn ta làm.


Nhưng ta đừng vội nản lòng khi thấy mình đã hết lòng rồi mà sao người kia vẫn chưa thay đổi. Một sự chuyển hóa bao giờ cũng hội tụ rất nhiều điều kiện chứ không thể chỉ dựa vào phần đóng góp của riêng ta mà nó xảy ra được, và chưa chắc là phần đóng góp ấy có giá trị thiết thực cho người kia nữa. Huống chi những điều kiện để tạo nên sự chuyển hóa trong người kia vẫn đang xảy ra và một số điều kiện khác xung đang trên đường đi toái, ta hãy kiên nhẫn chờ đợi và không ngừng sự nâng đỡ. Biết đâu những điều kiện sau cùng để thay đổi lại xuất phát từ chính thiện chí và tình thương của ta. Cho nên ta đã thương và muốn cứu giúp rồi thì đừng rút cánh tay lại, cũng có thể khi ta thu năng lượng che chở ấy lại thì người kia mới thật sự rơi tõm xuống vực sâu, vì niềm tin của họ đã dồn về phía ta, chỉ có ta đem tới nhân duyên ứng hợp để giúp họ thay đổi mà thôi.

Ta hãy luôn nhớ rằng tình thương mà mang theo quá nhiều điều kiện thì coi chừng ta đang thương bản thân mình chứ không phải là đang thương đối tượng kia. Đừng để hạt giống ích kỷ đáng lừa. Để trắc nghiệm ta hãy thường xuyên tự chất vấn mình nếu lỡ người kia không chịu tiếp nhận, hoặc nghi ngờ tấm lòng tốt của ta thì ta sẽ ra sao? Nếu vì những phản ứng của họ mà ta dập tắt ngay ý niệm muốn cứu giúp là ta chứng tỏ lòng chân thành của ta đã chưa đủ lớn. Đành rằng không phải lúc nào sự giúp đỡ của ta cũng là điều kiện cần thiết cho người kia, nhưng nếu ta đã thương và muốn giúp đỡ thì hãy cứ kiên nhẫn chờ đợi đến khi họ cần. Một tấm lòng tốt sẽ không bao giờ là thừa thải. Ta hãy nâng niu lòng nhiệt tâm giúp đỡ của mình, đừng để nó bị hao mòn hoặc chai cứng, thì sau này ta sẽ khó để đặt xuống một tình thương.

Đi như một bầy chim

Cũng có khi vì thói quen sĩ diện hay tự ái quá lớn mà ta luôn có khuynh hướng che đậy những khó khăn của mình. Như ta đang rất khổ sở vì mối nghi ngờ ngày một đè nặng trong lòng nhưng lại không chịu nói ra, vì nếu nói ra sợ người kia nghĩ ta là kẻ tầm thường hay yếu đuối nên chỉ biết cắn răng chịu đựng. Người kia gạn hỏi thì ta lại nói là không sao cả, ta đang rất ổn. Khi đã cố gắng hết sức rồi mà tinh thần vẫn rơi xuống thấp như vậy thì tại sao ta không nhờ đến sự nâng đỡ của người kia? Vậy sống với nhau để làm gì? Đôi khi chỉ cần một lời giải thích đơn giản là vấn đề đã được sáng tỏ rồi, ta sẽ không tự giam mình trong những ngày tháng u tối chỉ vì những tri giác sai lầm.

Hãy nhìn loài thiên nga mỗi khi cùng bầy di cư về miền đất ấm trước khi mùa đông đến. Chúng thường bay chung với nhau theo hình chữ V, nhịp vỗ cánh của con bay trước sẽ tiếp sức cho nhịp vỗ cánh của con bay sau, cứ thế mà chúng tiết kiệm được 70% công lực thay vì bay một mình. Trên thức tế chưa bao giờ có con thiên nga nào dám một mình bay từ phương Bắc về phương Nam, vì đoạn đường đó có khi dài tới hàng trăm hoặc hàng nghìn dặm. Điều kỳ thú là khi con dẫn đàn thấm mệt thì nó sẽ lùi lại để con thứ hai hoán vị với mình, nó không bao giờ độc tài lãnh đạo cả. Đặc biệt hơn nữa, khi có một con thiện nga bất ngờ bị kiệt sức hay trúng thương thì nó sẽ cử hai con mạnh khỏe khác ở lại yểm trợ và cả đàn sẽ giảm tốc độ tối thiểu để chờ chúng đuổi theo. Chúng không bao giờ bỏ qua sự nâng đỡ và yêu thương đồng loại của mình.

Khi nhìn bầy thiên nga luôn đi bên nhau có thể ta sẽ rơi nước mặt. Tại vì ta rất tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, rất thích sống biệt lập, nên không muốn ai đụng tới mình và ta cũng chẳng buồn quan tâm đến nỗi khổ niềm đau của kẻ khác. Ngay với những người thân trong gia đình mà ta vẫn còn sống rất ơ hờ thì đừng nói chi đến hai chữ “đồng loại” lớn lao kia. Mà có lớn lao gì đâu, mình không thương được đồng loại của mình, mình không nâng đỡ được đồng bào của mình, mình không chia sớt được nỗi khổ niềm đau của dân tộc mình thì làm sao mình có thể đứng vững trong trời đất này kia chứ? Nếu có, thì đó cũng là sự vay mượn giả tạm mà cái giá phải trả cũng sẽ rất đắt.

Biển đời mênh mông vô tận, trong lòng nó luôn chứa những đợt sóng ngầm, nó sẽ sẵn sàng kéo con thuyền ra xa và nhẫn chìm bất kỳ lúc nào nếu ta không kịp tỉnh táo và đủ sức để đối phó. Vậy nên ta hãy đi với nhau như một bầy chim, hãy cùng những người thân siết chặt tay nhau để đủ sức vươn lên những cánh buồm lớn cho con thuyền lướt nhanh tới phía trước. Ta đừng kẹt vào tài năng hay sự may mắn rồi tự ban cho mình một vị trí quá lớn mà trở nên khó khăn để hòa nhập với mọi người chung quanh. Đó là một thiệt thòi rất lớn, vì sức mạnh của đoàn thể bao giờ cũng có tính chất chở che và soi sáng.

Ta không nhất thiết phải làm thuyền trưởng thì ta mới có thể tham sự trên con thuyền vượt khơi. Mỗi vị thủy thủ chỉ cần tự biết được trách nhiệm của mình và sẵn sàng hoán vị với người khác khi cần thiết để mình kịp thời lấy lại phong độ mà ứng phó với những đợt sóng vô tình phía trước là được. Hãy đi bên nhau để có cơ hội va chạm, để buông bỏ bớt lòng cố chấp, để tập nhường nhịn và hòa điệu với nhau. Đó là những yếu tố quan trọng làm nên bản lĩnh và thành công của con người.

Ta hãy sống đời sống của một con người có hiểu biết và thương yêu, hãy chấp nhận nhau như những con thiên nga chấp nhận đồng loại của mình. Đừng vì nhu yếu hưởng thụ quá lớn, đừng vì cái tôi hẹp hòi bé nhỏ, để lúc nào ta cũng xây dựng trong lòng ngục thất của nghi ngờ, lo lăng và sợ hãi khi tiếp xúc với người khác. Còn đi chung đường với nhau, còn nhìn nhau tận mặt và sẵn sàng lên tiếng khi cần nhau hay hết lòng nâng đỡ nhau là ta đang giữ được thiêng chức của một sinh linh mầu nhiệm rồi. Hãy giữ lấy con đường ấy, vì đó chính là con đường đưa tới hạnh phúc chân thật!

Đi như một bầy chim
Vượt vùng trời băng giá
Đừng một mình ra khơi
Biển đời nhiều sóng cả.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

QUẢNG TÁNH
Nguồn: Báo Giác Ngộ 483
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

Xung đột và chiến tranh luôn hiện hữu tỏng lịch sử sinh tồn của nhân loại, và gần như nó không hề giảm thiểu nếu không muốn nói là ngày càng tăng thêm trong bối cảnh thế giới hiện nay. Chắc chắn một điều là nước nào có đầy đủ sức mạnh, toàn diện về các phương diện vật chất và tinh thần thì sẽ vững vàng, an ổn hơn trong các đối trọng giữa tương quan khu vực và toàn cầu.

Trường Bộ kinh (Kinh Đại Bát Niết Bàn) có ghi lại chuyện Đức Phật ở tại Ràjagaha, nước Magadha, bấy giờ vua Ajatasattu thống trị một quốc gia hùng mạnh, có ý đinh thôn tính nước lân bang Vajji, liền sai đại thần Vassakara đến thỉnh ý Thế Tôn.

Vua Ajatasattu nói với đại thần Vassakara như sau: “Này Bà là môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài: “Bạch Thế Tôn, Ajatasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú”. Và khanh hãy bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajatasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajji, vua tự nói: Ta quyết tâm chinh phạt dân Vajji này dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajji, ta sẽ làm cho dân Vajji bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh như thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại cho ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng”.


Tất nhiên vua Ajatasattu đã họp hành, bàn bạc kỹ lưỡng với hội đồng an ninh quốc gia Magadha nhưng ông vẫn muốn thỉnh ý Đức Phật. Có lẽ Ajatasattu đang cân nhắc về việc khởi động một cuộc chiến tranh, dù dưới bất kỳ lý do nào thì thương vong, chết chóc hàng triệu sanh mạng sẽ xảy ra và chưa hẳn cuộc chinh phạt sẽ thành công, hoặc nếu thành công chăng nữa cũng không lấy gì đảm bảo rằng sẽ mang lại quốc thái dân an. Vì thế, thỉnh ý bậc minh triết toàn thiện toàn tri hiện đang ngự trong quốc gia của mình, theo ông là cần thiết.

Trước vấn đề tuyệt mật và cực kỳ hệ trọng của quốc gia Magadha, nghe đại thần Vassakara thưa xong, Thế Tôn không biểu lộ ý kiến gì với sứ thần nhà vua mà chỉ nói với Tôn giả Ananda:

“Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajji thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?

Bạch Thế Tôn, con có nghe.

Này Ananda, khi nào dân Vajji thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajji sẽ cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajji tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết hay không?

Bạch Thế Tôn, con có nghe.

Này Ananda, khi nào nghe dân Vajji tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ananda, dân Vajji sẽ cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajji không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajji như đã ban hành thời xưa không?

Bạch Thế Tôn, con có nghe.

Này Ananda, khi nào dân Vajji, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajji như đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajji sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajji và nghe theo lời dạy của các vị này không?

Bạch Thế Tôn, con có nghe.

Này Ananda, khi nào dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajji và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajji sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajji không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajji phải sống với mình không?

Bạch Thế Tôn, con có nghe.

Này Ananda, khi nào dân Vajji không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajji phải sống với mình thời, này Ananda, dân Vajji sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajji ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?

Bạch Thế Tôn, con có nghe.

Này Ananda, khi nào dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajji ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajji sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, người có nghe dân Vajji bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A la hán ở tại Vajji khiến các vị A la hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A la hán đã đến được sống an lạc không?

Bạch Thế Tôn, con có nghe.

Này Ananda, khi nào dân Vajji bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A la hán ở tại Vajji khiến các vị A la hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A la hán đã đến được sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajji sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.

Dù không hề đả động gì đến lời thỉnh cầu của đại thần nước Magadha, nhưng qua cuộc hội thoại của Thế Tôn với Tôn giả Ananda, đại thần Vassakara đã nhận thức được rằng: “Tôn giả Gotama, nếu dân Vajji chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajji nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajatasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajji ở chiến trận”.
Tiễn khách, Thế Tôn chỉ ân cần khuyên đại thần Vassakara: “Người hãy làm những gì người nghĩ là hợp thời”.

Rõ ràng, Thế Tôn muốn nhắn gởi đến quốc vương Magadha một cách gián tiếp rằng không nên tiến hành cuộc chiến với dân Vajji vì chắc chắn sẽ thất bại. Vajji tuy không phải là một cường quốc nhưng họ đã làm được tất cả những gì cần thiết để giữ vững bờ cõi, dù nằm cạnh một láng giềng hiếu chiến, đầy tham vọng bành trướng.

Như vậy, “Cái đáng sợ không phải là thế giặc mạnh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Muốn dân theo thì phải an dân (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Nguyễn Trãi). Dân có an thì nước mới tháo bình, thịnh trị, ngoại bang không dám lăm le xâm lược và nếu cứ hung hăng bành trướng thì chắc chắn “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” ( Lý Thường Kiệt ). Thế Tôn từ xưa đã khẳng đỉnh điểu này, chứng minh rõ ràng qua “bảy pháp bất thối” mà dân Vajji đã thực thi để tự cường, giữ yên bờ cõi bằng nội lực quốc gia. Đó là sức mạnh được tạo ra từ sự đoàn kết, hòa hợp, dân chủ, công bằng và văn minh đích thực chứ không phải chỉ hô hào, khẩu hiệu.

Trang sử Việc hào hùng với lịch sử chiến thắng ngoại xâm, từ xưa đến nay từng đánh bại những đế quốc hùng mạnh nhất thế giới đều nhờ sự đoàn kết toàn dân. Hơn 2000 năm đồng hành cùng dân tộc, “Trang sử Phật / đồng thời là trang sử Việt” (Hồ Dzếnh) nên “bảy pháp bất thối” của dân Vajji là giải pháp cần yếu, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nội lực dân tộc, giữ vững biên cương Tổ quốc.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 24/06/2009

Giá trị đồng tiền – Phan Minh Đức

PHAN MINH ĐỨC
Nguồn: Báo Giác Ngộ 488
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Liên Hoa

Chưa bao giờ đồng tiền có sức mạnh đáng sợ như hiện nay!

Con người tạo ra tiền bạc dùng để thay thế giá trị hàng hóa, làm phương tiện trao đổi thay vì trao đổi hàng hóa với nhau như thuở trước khi đồng tiền chưa xuất hiện. Nhưng khi đồng tiền trở nên hữu ích vì tiện lợi thì tiền bạc trở lại tác động chi phối mãnh liệt đời sống của con người. Xã hội càng phát triển, đời sống vật chất càng cao thì đồng tiền càng có vị thế. Hầu như mọi thứ trong đời sống vật chất đều có thể đánh đổi bằng tiền, thậm chí tiền có thể mua cả một số giá trị tinh thần nếu như người ta “bán rẻ” nó, chẳng hạn như quyền lực, danh tiếng, sự trọng vọng của xã hội… Chính vì thế mà con người đã ví von đề cao đồng tiền đến mức gần như sùng kính: “Tiền là Tiên, là Phật”, đồng tiền có quyền năng rất lớn. Giá trịn của đồng tiền đối với đời sống con người được xem như gắn liền với nhau: “Đồng tiền liền khúc ruột”, “Tiền là xương máu”, “Đồng tiền là mạch sống”…


Xã hội hiện đại là xã hội mà mọi người cần phải có tiền để giải quyết các nhu cầu của đời sống, vì thế việc tạo ra tiền và sử dụng tiền gần như là vấn đề thiết yếu. Nhà cửa, trang phục, thực phẩm, phương tiện đi lại, phương tiện giải trí, thông tin truyền thông, mọi tiện nghi của đời sống… đều được trao đổi bằng tiền. Nếu không có tiền dường như chúng ta không có gì cả. Đồng tiền đã tạo nên áp lực rất lớn đối với con người và nó trở thành tâm điểm buộc con người phải xoay quanh nó. Người ta xem tiền bạc như nhu yếu của sự sinh tồn, vì thế nó cũng là nguyên nhân dẫn đến trộm cướp, chiếm đoạt, những hành vi bất chính, phi đạo đức, phi nhân bản…

Trong một xã hội nếu như giá trị đồng tiền chi phối tất cả thì những giá trị khác của cuộc sống dễ dàng bị bỏ quên, bởi lúc này người ta mù quáng vì tiền. Bản thân đồng tiền không có tội, chỉ vì sức ảnh hưởng của nó quá lớn đến độ che khuất cả tầm nhìn của chúng ta. Nếu bị mù quáng vì sức mạnh của đồng tiền thì chúng ta không còn biết đến những gì đáng quý và quan trọng hơn, thậm chí chúng ta có thể rơi vào sai lầm, tội lỗi.

Người ta thương nói đùa mà thật về tiền bạc như sau: “Tiền là tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe tuổi già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý…”. Điều này phản ảnh phần nào thực trạng xã hội khi đồng tiền có sức mạnh chi phối mọi lãnh vực đời sống. Đồng tiền có thể mang lại niềm vui, hạnh phúc cho con người, vì tiền có thể tạo ra nhà cửa, xe cộ, thức ăn thức uống, các thú vui tiêu khiển. Tiền có thể đáp ứng các nhu cầu, tham muốn hưởng thụ… Với ý nghĩa tiêu cực, đồng tiền có thể giúp người ta có sự nghiệp danh vọng, giúp thăng quan tiến chức. Đồng tiền có thể bưng bít, che giấu sự thật, đảo lộn thị phi, làm ô dù che chở cho người ta nhúng tay vào tội lỗi, đồng tiền ở đâu thì cán cân công lý nghiêng về bên đó. Chính vì đồng tiền có sức mạnh và quyền năng như thế mà người ta không ngại bỏ thời gian, công sức, bất chấp thủ đoạn, thậm chí bán rẻ lương tâm, đạo đức để đeo đuổi mục đích kiếm tiền. Tiền bạc mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người, nhưng cũng chính nó cướp đi niềm vui và hạnh phúc của con người, vì chạy theo đồng tiền mà người ta quên đi những giá trị sống khác, thậm chí đánh mất bản thân, vì đồng tiền mà người ta sẵn sàng gieo đau khổ cho nhau và làm cho xã hội bất an, điên đảo.

Tuy nhiên, tiền không phải là tất cả, suy xét kỹ, có nhiều thứ không thể mua hay đánh đổi bằng tiền. Và một xã hội muốn phát triển phải toàn diện chứ không phải chỉ phát triển về kinh tế. Trong đời sống, đồng tiền có thể mua thực phẩm, thuốc men, nhưng không mua được sức khỏe và sinh mạng. Đồng tiền có thể mua được các thú vui hưởng thụ, các trò tiêu khiển giải trí nhưng không mua được an vui. Tiền bạc có thể tạo ra nhà cửa chứ không xây dựng được tổ ấm gia đình. Đồng tiền có thể mang lại giàu sang chứ không mang lại hạnh phúc. Có tiền dễ dàng có được chồng sang vợ đẹp nhưng không hẳn có được tình yêu. Có tiền sẽ có được nhiều tiện nghi nhưng chưa hẳn có được sự thảnh thơi thoải mái. Đồng tiền có thể tạo nên danh vọng, sự nghiệp, quyền lực nhưng không lâu bền. Đồng tiền có thể giúp người ta trốn tránh tội lỗi, thoát khỏi lưới ngục tù nhưng không thể thoát khỏi sự dày vò đài ải của lương tâm…

Việc tạo ra tiền và sử dụng tiền đều có hai mặt tích cực và tiêu cực. Tạo ra tiền bằng công sức của chính mình, bằng cách thức, phương tiện chân chính, đó là tích cực. Sử dụng đồng tiền vào mục đích tốt làm lợi ích bản thân, gia đình và xã hội, xây dựng gia đình và xã hội phát triển vững mạnh, phồn vinh, đó là tích cực. Ngược lại, bất chấp hậu quả, dùng mọi thủ đoạn bất chính, phi pháp làm tổn hại nhân phẩm đạo đức bản thân, vi phạm lợi ích, hạnh phúc an vui của người khác để tạo ra tiền cho mình, đó là tiêu cực. Việc sử dụng đồng tiền vào mục đích sai trái, gây ra tội lỗi là việc làm tiêu cực có hại cho bản thân và xã hội. Trong xã hội hiện nay, việc làm ra tiền và sử dụng tiền một cách hợp lý, tích cực là một thử thách rất lớn đối với mọi người.

Khủng hoảng tài chính thế giới, nền kinh tế toàn cầu suy thoái là một cú sốc “chết người” đối với các nhà tài chính, các thế lực đồng tiền, biến cố lịch sử này đã làm chao đảo xã hội tiêu thụ thực dụng, đây chính là lúc mọi người cần thẩm định lại những giá trị sống để không ngã quy trước cơn khủng hoảng. Vì thế, người Phật tử phải bình tâm quán niệm để rủ bỏ những ý niệm bám víu, lệ thuộc hoàn toàn vào tiền bạc, tùm về với những giá trị sống khác mà tử lâu ta lãng quên mới có thể thoát khỏi sự nhấn chìm của vòng xoáy tiền tệ, vượt qua được những khổ não, bất an do cuộc khủng hoảng gây ra.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 23/06/2009

Em sẽ về!

THÍCH ĐỒNG TÂM

Nguồn: Báo Giác Ngộ 481
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

Sư anh thương của em!

Em biết những dòng chữ này Sư anh không có cơ hội đọc được. Thế là một năm khép lại và mở ra bao điều mới mẻ. Em thấy mình trong trẻo và bình an đến lạ. Những chuyến đi đầy bụi vẫn không làm bạc màu tâm hồn vốn thích lang thang và khám phá! Những ngày rong ruổi lên Langbiang hứng sương đêm, ngồi bên vệ đường ngắm hoa thức giấc. Về lại Sài Gòn, nghe ấm lòng biết bao khi theo chân các anh về Cần Giờ phát quà từ thiện . Đi lang thang, lãng du và bất định. Về nhà chưa nóng bếp lại tạt qua Bến Tre, đến vùng Bình Đại. Về lại đi, đi lại về! Đôi khi cũng không cố biết ta đi về đâu. Chỉ biết rằng đi thật hạnh phúc, đi đến với những miền yêu thương và nỗi nhớ!


Những ngày ở bên Sư anh là những ngày thật hạnh phúc! Hai anh em ngồi bên nhau thật bình an và hạnh phúc như cỏ hoa. Sư anh cũng thích làm cỏ hoa như em vậy. Về Sài Gòn, ngộp và ồn ào quá (Sư anh ạ, dù em đã ở đây gần 5 năm, quen thuộc đến từng con đường, góc phố nhưng sao vẫn thấy còn xa lạ).

Bây giờ là 12 giờ, giờ này chắc Sư anh vừa mới đi học về. Em nhớ cái dáng người cao cao ôm cái cặp to to chạy trên chiếc xe đạp cọc cạch của Sư anh. Chùa mình vui tương quá Sư anh nhỉ! Sư phụ thì hiền thật hiền, hoa trong vườn thì đẹp ơi là đẹp! Lên Sài Gòn cái mũi của em lại khọt khẹt, làm em nhớ… Chắc nó không thích khói xe ở đây. Cái mũi của em thích không khí thật nhẹ, thật hiền và tươi mát trong vườn nhà mình thôi! Em ngồi ở đây mà thèm được ngồi với anh chặt mấy cây mai, cây cúc đem ra sân phơi cho Sư chú hốt thuốc. Em thích ngồi tách từng bông từng bông vạn thọ, bông cúc bé tí cho tung toé khắp nơi. Lúc ngồi bên Sư anh, em thờ vào thở ra nhè nhẹ, ý thức từng đài hoa mìn mịn rơi quá kẽ tay, ý thức Sư anh ngồi có mặt cho em trong giây phút đó! Rồi nhớ cả buổi chiều mấy anh em mình hốt thuốc vô bao, vô thuốc cho những khay trống để ngày hôm sau Sư phụ cho thuốc những người nghèo. Giọng Sư phụ mình hiền thật hiền và trong trẻo đến lạ, Sư anh có thấy vậy không?

Sư anh thương!

Chiều ngày cuối em còn ở lại chùa mình, trước khi em lên thành phố, sư anh dẫn em đi thiền hành vòng sân trước cửa. Em thấy lòng nhẹ nhàng quá! Không biết khi nào em lại được về cùng đi thiền hành và pháp đàm với Sư anh? Nhất định em sẽ về mà, em hứa. “Anh sợ cuộc đời vô thường cướp mất em của anh!”, anh từng lo như thế. Em không mất đi đâu Sư anh à. Em sẽ quay về bên anh, bên thầy như những ngày xưa ấy. Em sẽ về…

Thời gian trôi, anh em mình đã xa… Em không còn được ngồi bên Sư anh chặt mấy cây thuốc đó nữa. Em thấy nhớ Sư anh lắm! Nhớ vườn thuốc chùa mình. Ngày em đi Sư anh chỉ nói “Cố gắng quay về với anh nhé! Nhớ nghĩ đến những người bất hạnh …”. Em nhớ, không bao giờ quên những điều đó.

Chính vì nhớ rất rõ nên em cảm nhận rất rõ là anh em ta chưa bao giờ xa cách, Sư anh à! Em đã thực tập như thế, thực tập nhận diện là sư anh, sư em, sư phụ, chúng sanh, cha, mẹ, vạn hữu có trong ta…

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 23/06/2009

Điều gì đến sẽ đến – Lê Đàn

LÊ ĐÀN
Nguồn: Báo Giác Ngộ 487
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Viên Lâm

Có một cậu bé khoác tay nải hồn nhiên bước về phía thị trấn. Cách đây ít ngày, người chú nhắn tin yêu cầu cậu về phụ trông nom một cửa hàng gần trung tâm thị trấn.

Đến bìa rừng, sau khi uống vài ngụm suối mát, cậu bé thấy mỏi chân và nghỉ ngơi một chút dưới cây cổ thụ bên đường. Tiếng suối róc rách, chim hót líu lo đã đưa cậu bé vào giấc ngủ ngon lành.

Một cô bé xinh xắn làng bên dừng chân ngắm cậu bé và chợt thốt lên: Anh ấy có gương mặt dễ thương đúng như những gì mình đang mơ ước. Phải chi bây giờ anh ấy tỉnh dậy nhỉ!

Nhưng cậu bé đang ngủ giấc say, cô gái không thể chờ được đành cất bước đi.

Chợt có tiếng chó sủa, hai tên cướp vừa thực hiện xong một phi vụ, chúng chạy về phía cậu bé đang ngủ. Một tên rút dao ra nói với tên còn lại: Chắc chắn thằng nhóc này có cái gì trong đó. Tao sẽ đâm cho nó một nhát và mày giật lấy cái túi của nó.

Tiếng chó sủa mỗi lúc một gần hơn, tên kia lo lắng: Thôi, bỏ đi! Chạy kẻo không kịp!

Trong thoáng chốc cả hai tên cướp đã biến mất vào cánh rừng già. Cậu bé vẫn ngủ say, không biết chuyện gì đang xảy ra.

Một lát sau có tiếng xe ngựa dừng cạnh bờ suối. Bước xuống xe là hai vợ chồng lớn tuổi, dáng vẻ giàu sang. Trông thấy cậu bé đang ngủ có khuôn mặt tuấn tú khôi ngô, họ ước gì có thể nhận cậu về làm con nuôi. Nhưng cậu bé vẫn ngủ say và họ phải khởi hành vì đường về nhà còn xa.

Đến trưa cậu bé tỉnh dậy, khoan khoái vốc nước suối rửa mặt và tiếp tục quảy túi bước đi hướng về phía thị trấn mà không hề biết những gì xảy ra trong khi mình đang ngủ. Cậu đã không hề biết một tình yêu đẹp vừa chớm nở, cái chết có lúc kề bên và một cuộc sống giàu sang phú quý đã ghé đến…

(Kể theo Điều gì đến sẽ đến)

BÀI HỌC ĐẠO LÝ

Chuyện xưa kể rằng: có anh chàng học trò lều chõng đi thi, ghé quán bên đường nấu nồi cháo kê, trong khi chờ cháo chín thì ngủ thiếp đi. Anh ta mơ thấy mình đỗ đạt bảng vàng, được áo mão vua ban, làm trạng nguyên về làng vinh quy bái tổ. Khi tỉnh dậy thì nồi kê chưa chín, mới hay mình mộng mị chiêm bao.

Câu chuyện của anh chàng học trò là như vậy, còn câu chuyện của cậu bé trên xem ra chẳng có gì liên quan nhau, nhưng hóa ra lại có sự đồng điệu. Cả hai cùng đi trên con đường kiếm tìm hạnh phúc, cả hai cũng có giấc ngủ bên đường, có lẽ cậu bé cũng mơ một giấc mơ đẹp và cái anh chàng học trò trong lúc đang ngủ cũng có những chuyện rủi may kề cận mà anh ta không hề biết.

Cuộc sống vốn dĩ có những sự việc đến bất ngờ, có những điều ta biết nhưng cũng có những điều ta không thể biết. Không một nhà tiên tri tài ba nào có thể tiên đoán được hết những gì sắp xảy ra. Vì vậy, “hiện pháp lạc trú” của Đức Thế Tôn dạy cho ta biết trân quý giây phút hiện tại, biết sống thật sâu sắc đừng hoài phí một sát na nào cả. Không có gì phải âu lo bởi vì quá khứ đã qua rồi mà tương lai còn chưa tới, cứ ngồi lo cho cái tương lai chưa hề biết ấy thì thật là vô ích. Chỉ có hiện tại là giây phút nhiệm màu nhất. Chúng ta hãy sống cuộc sống chánh niệm tỉnh thức, để biết những gì đang xảy ra và biết mình phải làm gì thật có ích cho cuộc đời này.

Cuộc sống chúng ta luôn có những điều sẽ đến, và đôi khi chúng xảy ra đến dường như kề bên chúng ta. Đó có thể là may mắn hoặc bất hạnh, điều lành hay điều dữ. Và rất may là chúng ta không hề biết tất cả những điều đó. Nếu không cuộc sống này sẽ đầy những suy tư, lo lắng, sợ hãi và cả nuối tiếc. Và… chúng ta sẽ khó mà thanh thản trong công việc, vững bước mạnh dạn vượt qua những thử thách để đạt được mục đích hay ít nhất là có một giấc ngủ thật bình an nhiều mộng đẹp như cậu bé và anh học trò kia.

Phatphap.wordpress.com – phatphapdaithua.com – phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 23/06/2009

Bông Hoa Đẹp Nhất

LÊ ĐÀN
Nguồn: Báo Giác Ngộ 489
Đánh máy: Huỳn Hoa – Viên Lâm

Đã từ lâu rồi, tôi thường nhờ một người cung cấp cho tôi những bông hồng làm bằng vải để cài lên ve áo khoác mỗi ngày chủ nhật. Với tôi đó là một cử chỉ trân trọng và đã trở thành thông lệ. Tuy một ngày chủ nhật nọ, những gì mà tôi cho là bình thường đã trở nên rất đặc biệt.

Trên con phố tôi thường đi dạo ngày chủ nhật, có một cậu bé đến trước mặt tôi và bảo: Thưa ông, ông sẽ làm gì sau khi dùng bông hoa ấy? Ngay lúc đó tôi không biết là cậu bé nói gì, nhưng rồi cũng kịp hiểu ra.

Cháu nói cái này hả? – Vừa nói tôi vừa chỉ vào hoa hồng đính trên áo khoác của mình.

Cậu bé đáp lại: Thưa ông, đúng ạ! Nếu ông định vứt nó đi để thay cái khác thì xin ông hãy cho cháu cái cũ ấy. Lúc đó tôi mỉm cười và vui vẻ bảo rằng cậu ta có thể lấy bông hoa này, và tôi hỏi xem cậu sẽ làm gì với bông hoa ấy.

Cậu bé nhìn tôi rồi nói: Thưa ông, cháu sẽ tặng cho bà nội. Cha mẹ cháu đã ly dị cách đây một năm. Cháu đang sống với mẹ, nhưng mẹ đi thêm bước nữa và mẹ muốn cháu đến sống với bố. Cháu sống với bố một thời gian, nhưng bố lại bảo là cháu không thể sống chung với bố được nữa. Thế là bố gởi cháu đến nhà bà. Lúc nào bà cũng thật tốt với cháu. Bà nấu ăn và chăm sóc cháu thật chu đáo, vì vậy nên cháu muốn tặng bà bông hoa xinh đẹp này để cảm ơn tình thương yêu của bà dành cho cháu.

Khi đứa bé vừa dứt lời, tôi hầu như không thể nói gì được nữa. Mắt nhòa lệ và tôi biết cậu bé đã chạm đến những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn tôi. Tôi gỡ cành hoa trên áo ra vào bảo: Con trai, đây là điều tốt đẹp nhất mà ta đã từng nghe được, nhưng con đừng lấy bông hoa này vì nó bé quá. Ta sẽ mua cho con một bó hoa lớn để con mang về tặng cho bà, bởi vì bà xứng đáng nhận được những điều tốt đẹp nhất. Tôi xúc động nhìn cậu bé ôm bó hoa ra đi, đối với tôi, chính tâm hồn cậu bé là một vườn hoa đẹp nhất.

(Kể theo The Values of Life)

BÀI HỌC ĐẠO LÝ

Đọc xong câu chuyện này, có lẽ không ai trong chúng ta mà không xúc động nghẹn ngào cảm thương cho hoàn cảnh của cậu bé hồn nhiên thơ dại kia. Thật sự ra thì chẳng ai muốn ly hôn để cho con mình lâm vào hoàn cảnh tội nghiệp như thế. Nhưng khi những mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể nào giải quyết êm đẹp thì việc chia tay khó có thể tránh được.

Tại vì sao người ta ly hôn? Có đến nghìn lẻ một lý do ly hôn, dù cho đó là lỗi tại người cha, lỗi tại người mẹ hay cả hai người đều có lỗi, thì những đứa con vẫn hoàn toàn vô tội. Và nạn nhân đáng thương nhất của ly hôn không ai khác chính là những đứa con, kết quả của tình yêu một thời đã đơm hoa kết trái. Nhìn cậu bé trong câu chuyện trên mà thấy mủi lòng. Nhưng cậu bé ấy vẫn còn may mắn rất nhiều là có mái ấm của bà để nương tựa. Còn biết bao số phận của các cậu bé, cô bé khác đang thiếu thốn tình thương, có cha mẹ mà như không, một số em được vào các nhà tình thương, mái ấm tình hồng, trại mồ côi… còn lại không ít các em sống vất vưởng kiếm ăn trên đường phố, thật là tội nghiệp! Có ai dám chắc rằng, trong hoàn cảnh ấy các em sẽ trở thành người tử tế, lương thiện?

Một câu ca dao rất cũ: “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi bớt lửa mấy đời cơm khê”. Ra đi mẹ đã dặn con “Một điều nhịn, chín điều lành”. Sự nhẫn nhịn và lòng khoan dung mà Đức Phật đã dạy, sẽ giúp cho ta góp phần hóa giải được những mâu thuẫn lỗi lầm của người bạn đời thân thiết nhất của mình, để có thể thương được họ vào những lúc rất khó thương. Làm được điều ấy sẽ giúp cho chúng ta tránh được những đỗ vỡ, giảm thiểu tình trạng ly hôn và những đứa con yêu quý của chúng ta sẽ không phải xa cha mẹ như cậu bé đáng tội nghiệp kia. Và cha mẹ sẽ rất xứng đáng nhận bó hoa hồng đẹp nhất từ tay đứa con yêu quý của mình.

phatphap.wordpress.com – phatphapdaithua.com – phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 20/06/2009

XỬ LÝ SANH TỬ – HT.THÍCH TỪ THÔNG

[XỬ LÝ SANH TỬ – THÂM NGHĨA ĐẠI THỪA
HT.THÍCH TỪ THÔNG GIẢNG TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM ]


[ Download ]

[ Xem trực tuyến tại phatphapdaithua.com ]

[ Nghe trực tuyến ]

Đăng bởi: NT | 20/06/2009

Bình An

Tác giả: MINH NIỆM
Nguồn: Báo Giác Ngộ 484
Đánh máy: Huỳnh Hoa – Liên Hoa

Tâm an hay cảnh an

Khi ý thức được giá trị hạnh phúc chỉ luôn có mặt trong thực tại, ta mới chấp nhận dừng lại cuộc dong ruổi đi tìm kiếm và nắm bắt những gì thuộc về tương lai. Như ăn cơm mà cảm thấy ngon, ngắm bình hoa mà cảm thấy đẹp, ngồi bên người thương mà cảm thấy ấm áp là chứng tỏ tâm của ta đang an ổn, đang giữ được mức quân bình, đang ý thức rõ ràng những giá trị hạnh phúc mà mình đã từng nâng niu và gìn giữ. Mặc dù cuộc sống là luôn đi tới, ta cũng không ngừng vận động và sáng tạo, nhưng đó cũng vì nhu cầu thiết yếu để tồn tại, hoặc có thêm chút hương vị mới cho vui, hay để góp thêm bàn tay xây dựng cuộc đời, chứ những điều kiện của hạnh phúc thì ta đã có trong hiện tại rồi.

Vấn đề là ta có nhìn ra chúng là điều kiện của hạnh phúc hay không? Tại vì cũng có những lúc ta ăn cơm không cảm thấy ngon, ngắm bình hoa không cảm thấy đẹp, ngồi bên người thương không cảm thấy ấm áp. Và ta hay có khuynh hướng đổ thừa tại thức ăn, bình hoa hay người ấy, chứ ít khi nào ta chịu nhìn lại mình để thấy tâm của mình đang có khó khăn, có thể nó đang rơi xuống một vị trí rất thấp nên không còn khả năng quan sát hay nhận xét giá trị thực tại một cách nhạy bén và đúng đắn nữa. Đó là tình trạng tâm bất an, đang bị vướng kẹt hoặc bế tắc ở vùng nào đó trong tâm chứ không phải tại hoàn cảnh.

Thông thường tâm ta gắn kết chặt chẽ với hoàn cảnh, khi hoàn cảnh có xảy ra vấn đề gì thì tâm ta đều bị lãnh đủ. Tại vì ta đặt quá nhiều niềm tin vào hoàn cảnh, ta cho rằng ta chỉ thật sự hạnh phúc khi nắm bắt được cái này cái kia từ những điều kiện thuận lợi bên ngoài. Giờ phút nào ta chưa toại nguyện, hoàn cảnh xảy ra hoàn toàn trái ngược với những mong cầu thì tâm ta không thể nào an được. Cho nên ta thường mơ hồ về bản chất của hạnh phúc, không biết nó có thật hay chỉ là một thứ ảo ảnh, vì nó cứ chợt gần chợt xa, chợt hiện chợt ẩn, chợt có chợt không. Hạnh phúc mà còn bị điều kiện hóa, còn lệ thuộc vào sự may rủi của hoàn cảnh, còn nằm trong sự ảnh hưởng quá lớn của đối tượng khác thì hạnh phúc đó không thật sự là của ta, ta không thể kiểm soát hay giữ nó mãi được. Tuy hạnh phúc ấy có thật nhưng bản chất của nó là tạm bợ.



Mà làm sao ta có thể kiểm soát được mọi hoàn cảnh, làm sao ta có thể bắt mọi thứ phải theo ý mình thì mình mới toại nguyện? Đó là một ý niệm rất ngây thơ, vì bất kỳ một sự vật hay hiện tượng nào trong trời đất này đều xảy ra theo nguyên tắc của duyên sinh và nhân quả, mà tâm thức chưa vượt tầm của con người sẽ không thể nào tiên đoán chính xác được. Người xưa hay nói muốn thành tựu việc gì cũng phải dựa vào ba điều kiện lớn: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thiên thời là năng lượng của vũ trụ có sẵn sàng hiến tặng cho ta để cùng ta làm nên việc ấy hay không? Địa lợi là tình trạng xã hội như kinh tế, văn hóa, an ninh, chính trị … có thích hợp để ta thực hiện kế hoạch to tát ấy không? Nhân hòa là mọi người có chấp nhận và ủng hộ ta không, hay là chống đối?
Thiếu một trong ba điều kiện đó thì ta không thể thành công được. Có khi những điều kiện trong ta đã sẵn sàng rồi, tài năng và bản lĩnh có thừa, nhưng điều kiện bên ngoài không thuận lợi thì ta cũng đành chịu. Và cũng có khi điều kiện bên ngoài đã đầy đủ cho ta rồi nhưng chính trong ta lại thiếu thốn, thiếu đức thiếu tài, thì cũng không thể làm nên sự việc, hoặc thành tựu rồi thì lại sớm vỡ tan. Vậy mỗi khi ta đặt ra mong muốn gì thì cũng phải biết nhìn trong nhìn ngoài cho cẩn thận. Cái mà ta có thể kiểm soát được chỉ là chính ta thôi, còn hoàn cảnh thì ta phải dùng tới hai chữ “hên xui”.

Nhiều khi trong cái xui nó lại chứa cái hên, và nhiều khi trong cái hên nó lại mang theo cái xui. Điều này có liên quán đến cách ta sử dụng những điều kiện hên xui ấy như thế nào, nghĩa là chính năng lượng tốt hay xấu trong ta sẽ thích ứng và gắn kết với điều kiện tốt hay xấu của hoàn cảnh hay của đất trời. Cho nên khi sự việc bất thành thì ta đừng có lo lắng hay khổ tâm, đừng gắng gượng chạy tìm mọi phương cách để thay đổi nó, vì ta sẽ không bao giờ làm được hoặc nếu làm được thì cũng rất mong manh. Thái độ không ngoan nhấy là hãy trở về kiểm tra lại năng lượng của mình, mà năng lượng tốt hay xấu của ta do chính tâm ta sản xuất ra, vậy thì, nuôi dưỡng và giữ gìn những phẩm chất trong tâm quan trọng hơn là nắm bắt hoàn cảnh. Khi tâm an thì cảnh sẽ an.

Như vậy trước nay những khi ta có được trạng thái tâm an chính là do hoàn cảnh rất thuận lợi hay những người chung quanh rất dễ thương với ta. Nói cách khác là ta được toại nguyện nên tâm không còn khắc khoải mong cầu hay ray rứt kháng cự điều gì nữa. Ta hoàn toàn chấp nhận những gì mình đang có trong hiện tại. Nhưng một khi điều kiện may mắn ấy không còn nữa, nó suy giảm hay thay đổi đột ngột, nên ta dễ dàng hụt hẫng và trở thành nạn nhân của khổ đau. Vậy nên ta hãy thường xuyên kiểm tra lại thực chất tâm an mà mình đang có, coi chừng nó đang bị điều kiện hóa, nó không phải là của ta. Cũng như ta hãy nhìn lại tâm bất an của mình, có phải nó đang bị hoàn cảnh tấn công hay không làm cho ta thỏa mãn? Hãy tìm cách buông bỏ thái độ bám víu ấy đi. Nên nhớ cái gì mà do hoàn cảnh đem tới là có thể đổi thay, nó chỉ có giá trị nhất thời mà thôi.

Tâm an cảnh sẽ an

Khi tâm bình an thì những hạt giống tốt lành trong ta mới có cơ hội phát triển. Tại vì thường ngày ta hay sống bằng cảm xúc, bằng những phản ứng bảo vệ cái tôi ích kỷ của mình, nên nó che khuất những hiểu biết sâu sắc mà ta vốn có. Khi mặt hồ tâm phẳng lặng và trong suốt thì ta mới thấy hết những gì đang ẩn tàng trong chiều sâu tâm thức, lúc ấy ta mới biết mình nên là gì hay không nên làm gì để mình có thể chế xuất ra những năng lượng tốt. Nói cách khác, lý trí là thuộc tính của tâm an và cảm xúc là thuộc tính của tâm bất an. Nếu biết cách giữ cho tâm an thì ta sẽ luôn hài lòng và sẵn sàng chịu trách nhiệm cho mọi hành vi cử chỉ của mình. Và điểu đó có nghĩa là khi tâm bất an thì ta đừng nên quyết định hay làm bất cứ điều gì, chắc chắn ta sẽ hối tiếc sau này.

Khi tâm an ta sẽ nhìn nhận lại vấn đề ở một tầng hiểu biết khác. Ta không còn thấy sự việc bất thành hay đổ vỡ kia là điều quá kinh khủng, không còn thấy thái độ khó chịu hay lầm lỗi của người kia là đáng phải trừng phạt nữa. Cho nên khi tâm an thì ta không còn muốn thay đổi hoàn cảnh, ta có một khả năng chấp nhận có thể chấp nhận mà không thấy khó khăn hay đau đớn gì. Ta đã từng thấy có những người trông rất an ổn và vui vẻ, mặc dù trong họ đang có những mất mát rất lớn lao. Không phải họ cố che đậy để trình diễn trước mọi người, mà chính nhận thức và dung lượng trái tim của họ đã giúp họ ôm ấp được hoàn cảnh. Đó là những người không đặt hạnh phúc của mình quá nhiều vào sự toại nguyện từ bên ngoài, nên khi hoàn cảnh bất toại thì họ không dễ bị khổ đau.

“Tâm bình thế giới bình”, khi tâm bình an thì năng lượng đó sẽ lên đường để xâu kết với những năng lượng bình an khác trong những con người hay trong vũ trụ này, nó có thể trở thành một hiệu ứng dây chuyền nếu điểu kiện đủ cho nó xảy ra. Và khi tâm an thì ta nhìn đâu cũng thấy an, tuy đối tượng kia hay cả thế giới này còn nhiều biến động và phiền toái, nhưng ta vẫn không bị dìm xuống hay khổ đau theo, trái lại ta còn muốn trải lòng ra giúp đỡ. Cho nên thái độ khôn ngoan của một người biết sống là ta hãy luôn ưu tiên giữ gìn tâm bình an của mình, thà chịu để cho hoàn cảnh hư hao chứ nhất định ta không rao bán linh hồn của mình. Ai đã trải nghiệm nhiều năm trong cuộc đời đều cũng thấm thía chỉ có sự thanh thản và bình an trong tâm hồn mới là khát khao lớn nhất của con người.

Trong quá khứ ta đã từng sống thiếu tỉnh thức và hiểu biết, vì để nắm bắt những nhu cầu hưởng thụ cao cấp từ vật chất đến sự công nhận của người đời mà ta coi rẻ tâm hồn mình, đem tâm hồn mình ra cho hoàn cảnh hay kẻ khác giày xéo. Ta sẵn sàng nổi giận, hờn ghen, nghi ngờ, kỳ thị, độc tài, hơn thua và cả thù hận để có được cái này cái kia mà thực chất chỉ là những thỏa mãn cảm xúc. Ta chưa bao giờ có cơ hội để nhìn kỹ lại tâm mình, trừ phi bị thất bại hay mất mát chua cay, nhưng đó là những lần quay về muộn màng và choáng ngộp với những đống tàn tro. Kết quả thường là buồn chán và tuyệt vọng chứ chưa bao giờ có một chương trình thanh tịnh hóa tâm hồn cho nghiêm túc.

Thôi ta về đi, về thu xếp lại những bề bộn trong tâm hồn, đừng tiếp tục lao tới phía trước để nắm bắt hay chứng tỏ gì thêm nữa. Chỉ khi nào tâm hồn ta lắng dịu, không còn những khắc khoải mong cầu hay chống đối, biết chấp nhận và tùy thuận theo hoàn cảnh, ý thức giữ tâm hơn là giữ cảnh, thì ta mới nếm được chất liệu thảnh thơi và hạnh phúc chân thật. Nếu trong giai đoạn đầu rất khó giữ tâm trước hoàn cảnh trái nghịch, ta hãy tạm thời tìm cho mình một không gian đủ an ninh để tịnh dưỡng tâm hồn. Một con thú khi bị trúng thương thì nó lập tức rút về hanh để liếm láp vết thương vì nó biết cơ thể nó có khả năng tự chữa trị, nếu nó không kiềm chế nổi cơn thèm khát mà tiếp tục ra ngoài săn mồi thì sẽ bị kẻ khác tấn công hay chính vết thương ấy sẽ hủy diệt nó. Vì vậy biết lúc nào cần phải quay về nuôi dưỡng hay chăm sóc tâm hồn mình, sẵn sàng rời xa những hào quang hấp dẫn từ cuộc sống thì đó mới đích thực là kẻ trí.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com

Đăng bởi: NT | 14/05/2009

Tu là bỏ cái giả, nhận ra cái thật

TU LÀ BỎ CÁI GIẢ – NHẬN RA CÁI THẬT
HT THÍCH THANH TỪ
Nguồn: Báo Giác Ngộ 483
Đánh máy: Viên Lâm – Huỳnh Hoa

Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội bồ đề, thời gian đầu Ngài chần chờ không muốn truyền bá giáo pháp. Đến khi chư Thiên xuống đảnh lễ, cầu xin Ngài nên vì chúng sanh mà lập bày phương tiện giáo hóa. Lúc trước đọc sử tới đoạn này tôi hơi ngạc nhiên. Vì Đức Phật phát thệ nguyện lớn, thị hiện nơi đời để độ chúng sanh, sao bây giờ thành Phật rồi, Ngài không chịu đi truyền bá Chánh pháp, đợi năn nỉ mới chịu thuyết pháp.

Về sau nghiên cứu kỹ tôi mới thấy rõ, quả là chỗ Đức Phật thấy, Đức Phật không thể nói cho người thế gian hiểu. Tại sao? Bởi vì chỗ đó ngược hẳn với cái thấy của người phàm tục, nên làm sao giảng cho họ hiểu được. Vì vậy Phật không muốn nói. Khi chư Thiên nài nỉ Phật dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh, từ từ sẽ có người hiểu; Phật xét thấy điều này hợp lý nên kể từ đó mới chuyển bánh xe Đại pháp.

Bài pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển là bài Tứ đế, nói đủ là Tứ diệu đế. Lâu nay người học Phật xem đây là chân lý đầu tiên, Đức Phật trình bày rất đúng, rất thật. Nhưng đó là phương tiện, chớ không phải chỗ cứu kính chân thật. Nếu quý vị có đọc kinh Kim Cang, kinh Viên Giác sẽ thấy Phật dạy rằng: Pháp của Phật như con thuyền hay chiếc bè đưa người qua sông. Khi lên bờ rồi phải bỏ chiếc bè. Kinh Viên Giác nói, ví như người muốn thấy mặt trăng ở đâu? Người bạn thấy được liền lấy tay chỉ bảo “mặt trăng ở đó”. Nương theo ngón tay người kia nhìn thấy mặt trăng. Khi thấy mặt trăng rồi ngón tay là vô nghĩa. Cũng thế, pháp của Phật dạy là phương tiện, giống như ngón tay để chỉ cho chúng ta đi tới chỗ chân thật. Chỗ chân thật ví như mặt trăng, đạt được chỗ chân thật rồi thì phương tiện phải bỏ.

Chúng ta nên biết pháp Phật là phương thuốc trị lành tâm bệnh cho chúng sanh. Bệnh lành thì thuốc phải bỏ. Giả sử bây giờ chúng ta bị sốt rét phải uống thuốc sốt rét. Khi bệnh đã lành hoàn toàn, nếu thấy thuốc hay quá tiếp tục uống nữa thì sao? Bệnh trở lại. Cho nên bệnh lành rồi phải bỏ thuốc.

Pháp của Phật dạy là tùy bệnh cho thuốc. Chúng sanh có bệnh nào Phật cho thứ thuốc ấy. Ví dụ người tham ái nhiều, Phật dạy phương thuốc quán bất tịnh. Thấy thân nhơ nhớp quá sanh gớm nên hết tham ái. Người hiếu danh nhiều Phật dạy quán vô thương, danh vọng được rồi sẽ mất, chớ không bền, nhờ quán như thế nên bớt hiếu danh. Từng phương thuốc trị từng bệnh cho chúng sanh. Nhưng tất cả đều là phương tiện chớ không phải cứu akính. Ban đầu Phật dùng phương tiện dẫn dắt chúng ta từ từ đi tới kết quả là cứu kính. Thế nên muốn đến chỗ cứu kính, trước phải qua phương tiện, nhưng đạt được cứu kính rồi thì phải bỏ phương tiện.

Chúng ta ngày nay cứ đem kinh đọc cho Phật nghe hoài, cho đó là tu kỹ. Ngày nào cũng đem kinh ra đọc mà không hiểu được ý Phật dạy. Học kinh để hiểu, hiểu để tu chớ không phải đem đọc cho Phật nghe. Phật tử chẳng những đọc cho Phật nghe, mà còn tính bộ với Ngài nữa. Quả thật là một sai lầm đáng thương!

Ngài Huệ Khả trước tên Thần Quang, tu thiền cũng lâu. Khi nghe Tổ Đạt Ma sang Trung Hoa, ở chùa Thiếu Lâm ngồi xây mặt vào vách núi, mấy năm không nói chuyện với ai. Ngài tìm tới không biết làm sao thưa. Lúc ấy nhằm mùa đông tuyết xuống tới đầu gối, Ngài vẫn đứng thản nhiên từ đầu hôm đến sáng để cầu đạo. Biết được, Tổ xoay lại hỏi:

– Ông cầu cái gì mà chịu khổ hạnh vậy?

Ngài thưa:

– Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.

Tổ bảo:

– Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa ư?

Nghe thế, Ngài liền đi ra phía sau, mượn cây dao chặt một cánh tay dâng lên Tổ để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ Đạt Ma đồng ý và nhận làm đệ tử, đặt tên là Huệ Khả. Huệ là trí tuệ, Khả là khá. Ý Tổ khen ngài Thần Quang có trí tuệ khá lắm nên mới dám hy sinh như vậy.

Khi được nhận làm đệ tử rồi, một hôm Huệ Khả thưa với Tổ Đạt Ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt Ma không trả lời thẳng, mà bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả xoay lại tìm một hồi, tâm bất an mất tiêu, không thấy nở đâu. Ngài liền thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó ngài Huệ Khả liền biết đường vào.

Phật tử có ai tập ngồi thiền rồi , mới thấy tâm mình lăng xăng lộn xộn thế nào. Cho nên ngài Huệ Khả xin pháp an tâm là điều hợp lý vô cùng. Chúng ta cũng giống hệt vậy thôi. Nhưng câu trả lời của Tổ dường như hơi ngược ngạo, dạy pháp an tâm mà lại bảo “đem tâm ra ta an cho”. Chính chỗ này ngày xưa tôi cứ ngỡ dường như Tổ đùa chơi vậy. Người ta tha thiết học hỏi, mà Tổ lại như đùa, không ngờ ngài Huệ Khả lãnh hội được. Đó là điều chúng ta thấy khó hiểu. Sau này khi nhập thất tu, đọc lại sử, tôi mới giật mình thấy cái ngu trước. Bởi vì chúng ta bị si mê nên mãi chìm trong sanh tử. Si mê cái gì? Si mê chấp thân này là tâm mình thật. Hai cái si mê này khiến chúng ta cứ tạo nghiệp, đi mãi trong sanh tử.

Hiện giờ quý vị đều thầm đồng ý thân này thật nên mới quý, mới lo đủ thứ cho nó. Ví dụ có hai người đối trước món đồ giả, một người nói thật, một người nói giả. Vậy trong hai người đó, ai ngu ai trí? Giả mà tưởng thật là ngu, còn giả biết giả là trí. Vậy tôi đặt câu hỏi lại, thân này là thật hay giả? Giả. Nếu quý vị chỉ thấy cái giả theo câu hỏi của tôi, thì khi ra khỏi giảng đường này sẽ thấy nó thật hết. Đó là chỗ mê lầm của chúng ta.

Như quý vị đang ngồi nói chuyện chơi với người thân, bất thần người ấy đứt gân máu ngã xuống tắt thờ. Khi còn nói chuyện ta gọi đó là thật, đến lúc tắt thờ mới biết nó giả. Nếu thật thì lúc nào cũng thật, trước sau cũng thật. Mọi người khi còn đi đứng, nói năng đều cho là thật, đến chừng ngã ra chết ai cũng bảo giả hết. Như vậy là sao? Chẳng lẽ nửa thật nửa giả. Thật ra trong giả có thật mà chúng ta không biết, nên lầm cho nó hoặc toàn giả hoặc toàn thật.

Chúng ta thử xét lại xem, hiện giờ mình sống đây, lỗ mũi đang thở. Hít vô là mượn không khí bên ngoài vào. Thở ra là trả không khí ra ngoài. Hít vô thả ra đều đều thì sống. Hít vô mà không trả ra được, trả ra mà không hít vô thì chết. Như vậy thật ở chỗ nào? Nếu thật thì khỏi mượn, đã mượn thì không thật. Một lát mượn tách nước, chút xíu lại trả ra. Đem vô trả ra. Đem vô được mà trả ra không được thì đi cấp cứu. Mượn trả đều đặn thì yên, không đều đặn không yên. Lâu hơn nữa thì mượn chén cơm. Mượn rồi cũng phải trả. Rõ ràng thân này sống bằng sự vay mượn liên tục. Đã vay mượn mà nói thật thì biết trí tuệ chúng ta tới cỡ nào? Chẳng lẽ mình ngu hết sao! Thế mà ra đường ai nói ngu đâu có chịu, trong khi thực sự mình ngu quá chừng? Nói thế để thấy chúng ta đang mê lầm. Từ mê lầm đuổi theo thân, lo cho nó, rốt cuộc rồi cũng mất. Như vậy có đáng thương không?

Đức Phật giác ngộ thấy thân này là giả, do đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Chất cứng là đất, chất ướt là nước, động là gió, ấm là lửa. Bốn thứ này đem vô trả ra. Còn mượn mà không trả ra thì chết. Như vậy ta có thân này, chẳng qua là cuộc sống vay mượn. Đó là điều thứ nhất.

Thứ hai, quý vị thường cho những suy nghĩ phân biệt là tâm mình. Vì thế buồn, thương, giận, ghét… đều là tâm ta. Nói “tôi buồn quá” thì buồn là tôi. Tôi vui, tôi giận, tôi ghét… tất cả là tôi hết. Cả trăm thứ, biết cái nào là tôi thật? Nên không có cái tôi thật. Như ta đang có chuyện buồn, bất thần một người bạn tri kỷ từ xa về, gặp lại nhau mình vui liền. Như vậy buồn không thật, nếu thật khi vui đến buồn đi đâu? Như vậy vui buồn không phải thật mình, chỉ là cái tạm bợ qua mất, mà ta lại chấp nó là tâm mình. Từ chấp đó, ta nghĩ việc này phải làm như thế này mới đúng, làm khác là sai. Nếu ai đề nghị khác mình, hoặc phản đối ý kiến nghĩ của mình, ta sẽ nổi nóng liền. Bởi chấp tâm suy nghĩ là mình, nên phiền não phát sinh.

Song chúng ta thử hỏi lại, những suy nghĩ của mình có đúng trăm phần trăm không? Nếu ai cũng nghĩ đúng trăm phần trăm thì bây giờ nhà toàn cả chục tầng, chớ không phải một hai tầng. Vì khi nghĩ đúng khi nghĩ trật, nên làm ăn mới thất bại. Cuộc đời này thất bại nhiều, thành công ít, chứng tỏ con người nghĩ sai nhiều, nghĩ đúng ít. Vậy mà ai cũng cố chấp cái nghĩ của mình là đúng, rồi sanh buồn giận, thương ghét đủ thứ hết.

Lại nữa, những khi ta khởi nghĩ thì thấy có nói, nhưng khi không nghĩ nó ở đâu? Tìm không ra. Không có chỗ, không có hình tướng nên biết nó không thật. Lúc ngồi thiều, ý cứ nghĩ lăng xăng hoài, ta bực mình nói tâm bữa nay xao động quá. Như thế cho cái nghĩ lăng xăng xao động ấy là tâm mình. Phật bảo đây là kẻ mê.

Chúng ta hiện giờ đang cố chấp, đang mê trong sự sai lầm, vì vậy tu rất khó. Chấp thân thật nên gặp điều trái ý nổi giận đùng đùng. Do đó khổ cả ngày. Chừng nào thấy được thân không thật, tâm không thật chúng ta sẽ sống thảnh thơi. Mỗi người đều có quyền thấy khác mình, nên ai làm trái ý ta không giận. Hiểu như vậy là giải thoát nhiều rồi.

Phật thường dạy nếu chúng ta có nghĩ điều gì nên nói: “đây là cái nghĩ của tôi”. Đừng nói cái nghĩ của tôi đúng, thêm chữ “đúng” thì có chuyện. Bởi vì hai cái đúng ngược nhau chúng ta vẫn thấy dễ chịu, có khi còn trao đổi ý kiến để rút kinh nghiệm thêm. Sống trên tinh thần ấy thì hay quá. Nên người sáng suốt muốn tìm chân lý phải thấy rõ như vậy. Tâm không thật biết nói không thật, là người trí, người giác rồi. Thế nên biết ngồi yên tĩnh tu không làm gì hết, không phải vô ích, thật ra việc ấy có lợi ích lớn lao vô cùng.

Vì vậy chúng tôi dạy tu thiền, chỉ dẫn quý vị ngồi yên tịnh nhìn lại xem niệm khởi từ đâu. Nó vừa dấy lên, ta biết vọng tưởng hư dối không theo, cứ thế công phu. Mới nghe thấy đơn giản, không có giá trị gì, nhưng thật ra chúng ta đang làm một việc lớn, đó là phá sai lầm muôn đời của mình. Thấy rõ các tư tưởng sanh diệt liên tục, tạm bợ hư dối, không theo nó thì nó phải chịu thua mình. Đó là pháp an tâm của nhà thiền. Nói pháp nhưng thật ra không có pháp gì cả. Thiền tông chủ trương không có một pháp dạy người, chỉ dùng trí mình soi lại để thấy cái thật cái hư nơi mình. Đó là điều thiết yếu.

phatphap.wordpress.com & http://www.phatphapdaithua.com

Đăng bởi: NT | 27/04/2009

VIDEO Download: Nói Về Nhân Quả Ba Đời

VIDEO

PHẦN 1 | PHẦN 2 | PHẦN 3 | PHẦN 4

MP3

DOWNLOAD

Để download: Quý Phật tử \ Click phải \ “Save target as (IE)” hoặc “Save link as (Firefox)”
Nếu download về nhưng chưa xem được: Quý Phật tử download K-Lite Codec-Pack \ quá trình tải và cài đặt kết thúc, Quý vị có thể dùng phần mềm này xem các định dạng film khác nhau.

THUYẾT GIẢNG TRONG KHÓA TU MỘT NGÀY AN LẠC
LẦN THỨ 59

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: NT | 16/04/2009

HỌC PHẬT BẰNG CÁCH NÀO?

Đánh máy & trình bày : Viên Quý – Ngọc Trâm
Nguồn : Chìa khoá học phật – HT.THÍCH THANH TỪ & Xây dựng đời sống trên nền nhân quả luân hồi – HT.THÍCH THIỆN HOA.

Ở thế gian môn học nào cũng có phương pháp riêng của nó. Ví như môn toán học, người học trò trước phải biết số, kế học thuộc cửu chương, học cách cộng trừ nhân chia, lên nữa phải học công thức, phương trình… Môn văn chương, trước phải biết chữ cái, học ráp vần, viết chính tả, học văn phạm, tập cách làm văn…như vậy học Phật cũng cần một phương pháp để hiểu đúng,thực hành đúng những lời Phật dạy.



Phương pháp học phật tức là 3 môn Huệ học : Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ. Bởi vì muốn vào cửa giác ngộ, thì trí tuệ là đòi hỏi đầu tiên. Như ta đã biết Phật pháp là những chân lý là những sự thật, nếu không có ngọn đuốc trí huệ soi sáng, làm sao chúng ta thấy mọi sự thật ở chung quanh, không cần trí huệ, chỉ dùng lòng Tin đến với đạo phật, để học Phật pháp, thật là sai lầm lớn lao. Đây là chứng bệnh trầm trọng của Phật tử hiện thời. Cần chữa lành bệnh này, chúng ta phải ứng dụng triệt để ba môn Huệ học vào công trình tu học Phật pháp.

THẾ NÀO LÀ VĂN HUỆ.

Văn là nghe, do nghe giáo lý Phật pháp trí huệ mở sáng, gọi là Văn huệ. Chúng ta nghe Phật pháp qua lời giảng dạy của chư tăng, của thiện hữu tri thức đã tu học trước ta. Những lời giảng dạy ấy xuất phát từ kinh điển của Phật, trong đó chứa toàn lời lẽ chân chính, chỉ bày mọi sự thật cho chúng sanh. Càng nghe trí huệ ta càng sáng. Hoặc chúng ta ,trực tiếp đọc kinh sách Phật khiến mở mang trí huệ cũng thuộc Văn huệ. Chịu khó nghe giảng dạy, chịu khó nghiên cứu kinh sách phật, đó là người biết từ cửa Văn huệ tiến thẳng vào ngôi nhà Phật pháp.

THẾ NÀO LÀ TƯ HUỆ

Tư là suy xét phán đoán, do suy xét phán đoán những lời dạy trong Phật pháp, trí huệ càng tăng trưởng. Chúng ta được nghe lời chỉ dạy của thầy bạn, dẫn từ trong kinh Phật ra,song nghe rồi tin liền là chưa đủ tư cách học phật. Buộc chúng ta phải dùng trí phán đoán xem đúng hay sai, nếu quả thật đúng, từ đó chúng ta mới tin. Có thế, mới thực hành đúng câu « các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc lên với chánh pháp » trong kinh Pháp Cú. Chúng ta muốn mở mang trí huệ, song tự mình làm sao mở được, phải mồi ngọn đuốc trí huệ của mình với ngọn đuốc chánh pháp của Phật,trí huệ mới phát sáng.



Pháp sư Thích Từ Thông

Mồi bằng cách nào ?

Ví như chúng ta nghe vị sư giảng rằng : « tất cả thế giới đều là vô thường ». sau đó phải dùng trí huệ của mình phán đoán xem đúng hay không ? Chúng ta tự đặt câu hỏi, tất cả thế gian đều là vô thường, có sự vật nào thoát ngoài luật lệ ấy chăng ? nếu có, câu nói này chưa phải chân lý. Bằng không, mới thật đúng chân lý, chúng ta sẽ hoàn toàn tin. Thế rồi ta tự khảo sát :

Con người có phải vô thường không ? từ ông bà đến cha mẹ chúng ta đều có sinh ra, lớn lên, bệnh hoạn, già yếu, rồi chết. Kể luôn cả ta, khi nào còn nhỏ bé, lớn lên, bệnh hoạn, già yếu, rồi cũng sẽ chết. trong gia đình thân tộc chúng ta đã thế, ngoài xã hội cũng thế, cả nhân loại trên thế giới cũng thế, ngàn xưa là thế,mãi sau này cũng thế. Quả là con người vô thường.

Đến những sự vật, nào nhà cửa, bàn ghế, xe cộ… có bị vô thường không ? chính cái nhà của mình, khi mới cất thì tốt đẹp lành lặn, qua vài ba năm thấy cũ dần, đến năm mười năm thì hư sập. Cái bàn viết cũng thế, khi mới đóng xem bóng loáng tốt đẹp, dùng mấy năm đã thấy cũ, tróc sơn sờn mặt, rồi đây sẽ mục nát hư hoại. Chiếc xe đạp khi mới mua đem về mới toanh, chạy được một năm vỏ đã rách,cổ lỏng các con ốc lờn…vài năm nữa sẽ hư. Thế là, nhà cửa, bàn ghế, xe cộ… những vật cần dùng bên cạnh chúng ta thảy bị vô thường chi phối. Cho đến trăm ngàn vật khác, nếu khảo sát đều thấy đồng một số phận như nhau.



Chúng ta có thể kết luận rằng : « tất cả thế gian đều là vô thường », quả thật là chân lý. Ta tin chắc lẽ này, dù có ai nói khác đi, cũng không làm lay động được lòng tin của ta. Bởi lòng tin này đã được gạn lọc qua sàng lý trí, nên nó vững chắc không dễ gì làm lung lay.

Lại một thí dụ, chúng ta nghe một vị sư giảng lý luân hồi, bảo rằng : « muôn vật ở thế gian đều xoay quanh vòng luân hồi ». ta tự đặt câu hỏi :tại sao muôn vật đều luân hồi ? có vật nào không luân hồi chăng ? chúng ta bắt đầu xét từ thực vật :

Cây cối hình thành bắt nguồn từ hạt, hạt nảy mầm tăng trưởng thành cây, nở hoa, kết trái ; trái sinh hạt, hạt lại nảy mầm…đảo đi đảo lại không biết bao nhiêu lần.

Nước do ánh nắng bốc thành hơi, hơi lên cao gặp khí lạnh đọng lại, rơi xuống thành nước ; nước lại bốc hơi… mãi mãi không cùng.

To như quả địa cầu vẫn quay tròn quanh cái trục, sáng rồi tối, tối lại sáng. Căn cứ vào sự quay tròn của nó, người ta chia ra ngày giờ tháng năm, thời tiết Xuân Hạ Thu Đông, xoay vần thế mãi không cùng.



PS.Thích Từ Thông thuyết giảng Trường Phật Học TP.HCM (12-04-2009)

Thân người hay thú vật cũng thế cũng phải bị Luân hồi. Xét cho cùng thì cũng do tứ đại mà có(đất, nước, gió, lửa). Những chất cứng dẻo như : da, thịt, gân, xương là thuộc về đất ; những chất đượm ướt như máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về nước ; hơi thở ra vào, trái tim nhảy, phổi hô hấp, tay chân cử động là thuộc về gió ; hơi nóng trong người là thuộc về lửa. như trên chúng ta đã thấy, tứ đại đều Luân hồi thì thân người do tứ đại mà có, cũng phải luân hồi thôi. Khi thân này chết và đến lúc tan rã, thì chất cứng dẻo trả về cho đất, chất đượm ướt trả về cho nước, hơi nóng trả về cho lửa, hơi thở và sự cử động trả về cho gió. Rồi bốn chất này tuỳ theo nhân duyên chung hợp lại, làm thành cây cỏ hay thân người khác. Người đến khi chết rồi, bốn chất đó cũng trở về bản thể cũ của chúng.Trôi nổi trong 3 nẻo,sáu đường (Trời, Người, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh), không phải thường còn, cũng không phải mất hẳn mà là Luân hồi.

Do sự khảo sát trên, chúng ta khẳng định rằng « muôn vật ở thế gian đều xoay quanh vòng luân hồi » là sự thật không còn gì phải nghi ngờ.

THẾ NÀO LÀ TU HUỆ

Sau khi phán xét lời Phật dạy là đúng, chúng ta đem áp dụng trong cuộc sống hàng ngày của mình, khiến chánh lý càng ngày càng hiện sáng tỏ, là tu huệ. Ví như, đã biết rõ « tất cả thế gian là vô thường »chúng ta ứng dụng sự vô thường vào đời sống của mình, trong những trường hợp như sau :

Đã biết rõ thế gian là vô thường, khi gặp vô thường đến với bản thân ta, ta vẫn giữ bình tĩnh không hốt hoảng, sợ hãi. vì biết chắc điều đó ở thế gian không ai tránh khỏi, sợ hãi kinh hoàng chỉ làm rối thêm vô ích. Bởi không sợ nên tâm ta bình tĩnh sáng suốt, giải quyết mọi việc một cách tốt đẹp. Chúng ta vẫn đủ sáng suốt để khuyên giải cho những người đồng cảnh ngộ bớt đau khổ.



Biết rõ thế gian là vô thường, mọi sự tranh giành danh lợi, tài sắc… lòng ta nguội lạnh. Tranh giành những thứ tạm bợ ấy làm gì, để rồi chuốc khổ về mình, gây đau khổ cho người, rốt cuộc chỉ thành việc mò trăng bắt bóng. Lòng tham lam giành giật dục lạc thế gian, do đây dứt sạch.

Do thấy lẽ vô thường, chúng ta không thể ngồi yên chờ chết. Phải cố gắng làm mọi việc lành, nếu cơn vô thường đến, chúng ta có muốn làm cũng không sao làm được. Lại biết quý tiếc thời giờ, một ngày qua rồi không tìm lại được. Phải cấp bách nỗ lực làm lợi mình lợi người, không thể chần chừ.

Đó là 3 trường hợp cho biết « thế gian vô thường » chúng ta khéo ứng dụng tu hành trong cuộc sống hiện tại của mình. Bao nhiêu sự lợi ích tốt đẹp sẽ theo đó mà tăng trưởng. Sự tu hành ấy, đi đôi với tâm trí tỉnh táo sáng suốt, nên gọi là « tu huệ ».

Ví dụ khác, chúng ta nhận rõ « muôn vật luân hồi », liền ứng dụng lý luân hồi vào cuộc sống của mình. Nếu phải luân hồi, chúng ta chọn cái luân hồi nào tốt đẹp an ổn hơn. Ví như, biết các loài thảo mộc từ hạt nảy mầm, sinh trưởng thành cây, đơm hoa, kết quả ; hạt lại nảy mầm.. chúng ta nên chọn lựa hạt giống tốt ngon đem ương để sau này kết quả ngon, cho ta và mọi người được thưởng thức vị ngon. Cũng thế, trong vòng luân hồi bản thân ta cũng không thoát khỏi, ta cần tạo những nhân tốt, nhân an vui, để mai kia có lăn lộn cũng lăn lộn trong chỗ tốt, chỗ an vui.

Đã biết muôn vật luân hồi, chúng ta phải tìm xem nguyên nhân nào lôi cuốn vào trong ấy. Biết rõ nguyên nhân rồi, phải tìm cách thoát ra ngoài vòng luân hồi. Không đầu hàng khuất phục, để chịu lăn mãi trong luân hồi. biết luân hồi đê tìm cách thoát ra, chính là tinh thần « tu huệ ».

« văn huệ », « tu huệ » rất cần thiết, song tu huệ lại càng quan trọng hơn. Nếu có văn huệ, tư huệ mà thiếu tu huệ thì chỉ là huệ rỗng, không lợi ích thiết thực cho đời sống con người. Nhờ tu huệ mới thẩm định được giá trị văn, tư ở trên va giúp cho văn tư dược kết quả viên mãn.

Vì thế đức phật dạy hàng phật tử đi chùa là cốt gặp Sư tăng, Sư Ni, gặp Tăng Ni rồi cần phải thưa hỏi Phật pháp, thưa hỏi xong phải ghi nhớ, ghi nhớ rồi cần phán xét, phán xét rồi cần phải tiến tu. Được vậy mới đúng tinh thần phật tử (phỏng theo bài kinh Ma Ha Nam trong Tạp A Hàm. Bồ Tát Quan Thế Âm cũng trình với Phật, thuở quá khứ lâu xa Ngài gặp phật dạy tu phương pháp văn,tư, tu được vào chánh Định và cho hiệu là Quan Thế Âm.

Ba môn huệ học này hoàn toàn thích hợp với tinh thần khoa học hiện nay. Bất cứ môn học nào trước tiên học lý thuyết, kế phê bình lý thuyết, sau thí nghiệm hay thực hành lý thuyết. Lý thuyết tức là Văn huệ, phê bình tức Tư huệ, thí nghiệm tức Tu huệ. Có như vậy môn học mới tiến bộ.

Như chúng ta đã biết Phật học xoay vào nội tâm của mình, gạn lọc đào thải những tâm thức nhơ xấu, kiến tạo một tâm hồn trong sáng an vui tự tại.

Vì thế 3 môn học đều căn cứ trên nguyên tắc « xem lại chính mình ».Chúng ta hãy luôn chủ động học hỏi những kinh điển,nghe lời chỉ dạy của thầy bạn,rồi sau đó ta phải dung trí tư duy quán chiếu và cuối cùng hãy vận dụng vào hiện thực cuộc sống để đó không phải là những lý thuyết xuông . Trí tuệ cộng với lòng kiên nhẫn và niềm tin vào chính mình và có phương pháp học Phật(văn,tư,tu) sẽ giúp chúng ta rất nhiều trên con đường tu tập cũng như cuộc sống. Nắm vững nguyên tắc này, đọc kinh sách phật, chúng ta nhận định phán xét không bị sai lầm.

phatphap.wordpress.com & phatphapnhiemmau.com & phatphapdaithua.com

« Newer Posts - Older Posts »

Chuyên mục