Xem để tránh, xem để tư duy, xem để thay đổi

Advertisements
Đăng bởi: NT | 18/02/2018

Hạnh nguyện cho sự lành

Ở ngôi làng nọ, có một gia đình nuôi một đôi cá vàng rất đẹp, tất cả mọi trong thôn đều rất yêu thích…

Nhưng những ngày tháng tốt đẹp đó không được bao lâu, một ngày nọ, đất nước họ xảy ra chiến tranh, quân địch đã sắp đánh tới gần làng, không đi nơi khác lánh nạn e rằng không được! Mặc dù cả gia đình họ đều lưu luyến không muốn rời đi, nhưng vẫn phải vội vội vàng vàng thu xếp đồ dùng trong nhà và lên xe ngựa rời khỏi làng.

Ảnh minh họa Youtube

Khi cả gia đình đã đi được một đoạn đường khá xa, bỗng cậu con trai nhỏ của họ kêu lên: “Chết rồi! Cha ơi chúng ta quên không đưa hai bạn cá vàng đi cùng rồi!”. Hai vợ chồng họ nghe thấy con nói, đều ngước nhìn nhau, không biết phải làm sao.

Người cha do dự một lát rồi nói: “Nhưng mà… bây giờ chúng ta không còn đủ thời gian để quay lại nữa rồi con ạ…”

Cậu bé lo lắng nói: “Nhưng cá vàng cũng là người nhà của chúng ta mà, chúng ta sao có thể bỏ mặc ạ?”.

“Đúng rồi, không biết tới bao giờ chúng ta mới lại có thể quay trở về nhà được. Nếu tới khi đó chậu bị cạn hết nước thì tội mấy con cá lắm”. Người vợ nói phụ theo.

Người chồng suy nghĩ một lát rồi nói: “Được rồi!”, và cho xe ngựa quay đầu.

Trên đường quay trở lại từ xa đã nghe thấy tiếng bom đạn ầm ầm, gia đình họ trong tâm cảm thấy có chút sợ hãi, nhưng nếu không cứu mấy con cá yêu quý, họ sẽ cảm thấy rất bứt rứt. Thế là, cả nhà họ cho xe giấu vào một cây to gần nhà, nhẹ nhàng, cẩn thận cho 2 chú cá vàng vào bể nước sau nhà.

“Bảo trọng nhé”, cậu bé vẫy vẫy đôi cá vàng rồi mới cùng cả nhà rời đi.

Chiến tranh cứ kéo dài như vậy tới hơn một năm sau mới kết thúc. Cuối cùng họ cũng đã có thể trở về quê hương. Nhưng khi vừa về tới nhà, họ bàng hoàng nhận ra, màu xanh mướt của đồng lúa, của ruộng nương nay đã không còn. Tất cả chỉ còn là đống đổ nát, hoang tàn sau những trận bom. Nhà của họ cũng bị hư hỏng tới hơn phân nửa.

“Nhà cửa, ruộng vườn đều đã bị tàn phá hết rồi, muốn khôi phục lại, cũng phải mất nửa năm nữa. Cả nhà chúng ta sẽ phải sống thế nào bây giờ?”. Người cha buồn rầu, thở dài một tiếng.

“Cha, mau ra đây mà nhìn xem cái gì nè”, cậu con trai gọi với lên từ sau nhà.

Hai vợ chồng nghèo nhìn nhau, không hiểu rốt cuộc là chuyện gì mà khiến thằng bé vui vậy. Bước qua lớp cây cối ngổn ngang, men theo hàng rào đi ra sau nhà, họ bỗng nhìn thấy trong bể nước có rất nhiều điểm sáng lấp lánh.

“Là cả một bầy cá, bà nó ạ. Nhiều quá, lại đẹp nữa. Phen này nhà ta sống rồi”, người cha vui mừng xoa đầu cậu con trai.

Hóa ra, sau nửa năm, đôi cá vàng tuyệt đẹp kia đã đẻ ra rất nhiều chú cá vàng con. Thế là, cả gia đình họ mang những con cá vàng này vào thành phố bán cho người ta làm cá cảnh và dùng nghề này để vượt qua những ngày tháng khó khăn…

“Tâm hướng thiện là sự đầu tư có lãi nhất”

Kiên Định

Đăng bởi: NT | 18/02/2018

NGƯỜI MẸ

NGƯỜI MẸ

Nắng hồng rực rỡ trời mây

Chim muông ríu rít, cỏ cây rộn ràng

Hào quang chói lọi ánh vàng

Theo chân Đức Phật lên đàng sáng nay

Ngài đi khất thực trong ngày

Tìm cơ giáo hóa ai đây lầm đường.

Nhà kia kín cổng cao tường

Đế Đô là chủ, giàu sang nhất vùng

Tham lam, ích kỷ vô cùng,

Hôm nay chủ vắng. Chó trông chừng nhà,

Nhe nanh hăm dọa người qua

Mắt ngầu hung dữ như là cuồng điên.

Phật ngừng khất thực trước hiên

Chó lao vội đến sủa lên, cắn ngài

“Hãy im!” Ngài nói khoan thai

Chó bèn lui lại để rồi chồm lên

Phật đưa tay đỡ thản nhiên

Đón hai chân trước xong liền nói ngay:

“Ngươi là mẹ chủ nhà này!

Chớ nên nóng giận. Ta đây rõ rồi

Kiếp xưa hung ác hại người

Quanh năm lừa lọc, suốt đời tham lam

Cửa nhà, châu báu, bạc vàng

Mưu mô thâu góp vô vàn bất lương

Chết rồi còn vấn còn vương

Luyến lưu trần thế, tiếc thương gia tài

Lựa ngay kiếp chó đầu thai

Trở về nhà cũ giữ hoài của kia

Còn tham lam nữa làm chi!

Phải lo tu tỉnh ngay đi từ giờ!”

Oai phong Đức Phật vô bờ

Lời vàng nhiếp phục. Chó như ngộ liền

Ăn năn, hối cải, lặng im

Gục đầu, lệ tủi dâng lên ngập tràn

Phật bèn lui bước nhẹ nhàng,

Chó từ khi đó chẳng màng giữ canh

Lui vào một xó quẩn quanh

Bỏ ăn, bỏ sủa, mặc tình chủ gia.

*

Đế Đô dò hỏi người nhà

Mới hay chuyện Phật ghé qua bữa nào

Đế Đô căm tức biết bao

Chạy đi tìm Phật hỗn hào hét la.

Phật ôn tồn dạy: “Nghe ta!

Chó này kiếp trước chính là mẹ ngươi

Tham lam, độc ác, hại người

Nên nay muốn trở về nơi chốn này

Hóa làm kiếp chó khổ thay

Quẩn quanh giữ của đọa đầy tấm thân!”

Đế Đô bực bội vô ngần

Nghĩ lời vu khống, mười phần chẳng tin.

Phật thêm: “Ngươi hãy về liền

Dưới gầm chó ngủ đào lên có vàng

Mẹ ngươi chôn giấu kỹ càng

Chết rồi chẳng kịp trối trăng câu nào!”

Đế Đô kinh ngạc xiết bao

Lòng tham tan biến! Nỗi đau dâng tràn

Niềm tin đạo pháp dần lan

Về nhà đào bới, thấy vàng dấu chôn

Chao ơi tan nát tâm hồn!

Đế Đô ôm chó lệ tuôn tràn trề

Ăn năn cuộc sống u mê

Giờ đây sám hối quay về đường ngay

Quỳ xin Đức Phật chỉ bày

Cứu cho mẹ khỏi cảnh đầy khổ đau.

*

Từ bi Phật dạy đôi câu:

“Mẹ ngươi nghiệp chướng từ lâu nặng nề

Ngươi mau mau hãy tìm về

Nương nhờ Tam Bảo quy y tức thì

Lại thêm ngũ giới thọ trì

Tiền này bố thí, của kia cúng dường

Chân thành sám hối trong lòng

Mẹ yêu hồi hướng mới mong phước lành!

Ta từng chỉ dạy chúng sanh

Con đường giải thoát tự mình phải theo

Ở đời sướng khổ mình gieo

Nhân nào quả nấy chớ kêu ai cùng!”

Đế Đô chợt hiểu. Vui mừng!

Làm theo lời Phật một lòng thiết tha.

Thời gian thấm thoắt trôi qua

Một hôm chó duỗi mình ra lìa trần

Trút hơi thỏa mãn vô ngần

Tâm hồn thanh thản! Xác thân nhẹ nhàng!

Hôm sau trong giấc mộng vàng

Đế Đô thấy một bà dang tay cười

Trên nền mây trắng giữa trời

Gật đầu vui sướng, nói lời dịu êm:

“Mẹ gây lầm lỗi triền miên

Chó kia là mẹ đọa miền khổ đau

Nhờ ơn Phật độ nhiệm mầu

Nhờ con hiếu thảo trước sau tâm thành

Ngày nay mẹ được vãng sanh

Vào nơi thế giới an lành thảnh thơi!

Chớ quên nhân quả ở đời

Luật Trời đã định! Nhớ lời nghe con!

Gắng công tu học cho tròn

Mẹ dù vĩnh biệt mãi còn an vui!”

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(Thi hóa, phỏng theo Truyện Cổ )

Đăng bởi: NT | 01/01/2018

CON DAO TRONG TÂM

CON DAO TRONG TÂM

Ở bên Ấn Độ thuở xưa

Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày

Gia đình kia thật duyên may

Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà,

Tiếc thay chồng vợ tỏ ra

Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn.

Hóa thành một vị đạo nhân

Phật đi khất thực dừng chân trước thềm

Ôm bình bát, đứng trang nghiêm,

Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra

Tay xua đuổi, miệng hét la

Tục tằn chửi bới thật là dữ hung.

Đạo nhân nói, giọng ung dung:

“Ta mong gia chủ mở lòng ra cho

Chút lương thực giúp người tu,

Cớ sao thô lỗ đuổi xua nặng lời?”

Chợt anh chồng về tới nơi

Thấy người khất thực tức thời nổi cơn

Bao nhiêu giận giữ trào tuôn

Sẵn dao bén nhọn giắt luôn bên mình

Rút ra định chém người lành

Dù cho là kẻ tu hành chẳng nương.

*

Bỗng đâu có một bức tường

Hiện lên bao bọc đạo nhân mọi bề

Tường kiên cố, bằng pha lê

Cửa vào không có, ngại gì gươm đao.

Anh chồng bực bội kêu gào:

“Này ông hãy mở tôi vào mau đi!”

Đạo nhân nói: “Chẳng khó gì!

Hãy quăng dao bén ta thì mở cho!”

Anh chồng tự nghĩ: “Chẳng lo

Thân ta vạm vỡ lớn to hơn người

Tay không cũng đủ giết rồi

Dao dù bén nhọn ta thời cần chi!”

Nghĩ xong quăng vội dao đi

Lạ thay tường vẫn phẳng lì, còn nguyên.

Anh chồng tức giận hét lên:

“Dao kia tôi đã quăng liền rồi đây

Sao ông không mở ra ngay?”

Đạo nhân: “Dao bén trong tay sá gì

Dao trong Tâm mới hiểm nguy

Mau quăng dao đó tức thì gần ta!”

Thấy người thấu hiểu rõ ra

Bao nhiêu tâm địa xấu xa của mình

Anh chồng bất chợt hoảng kinh

Thật thà hối lỗi, chân thành ăn năn

Mưu mô độc ác tiêu tan

Khấu đầu lạy tạ đạo nhân hết lời.

*

Ngẩng lên nào thấy bóng Người

Bức tường chia cách đồng thời lùi xa

Đạo nhân giờ mới hiện ra

Dáng hình Đức Phật thật là uy nghiêm

Hào quang rạng rỡ một miền,

Nhân từ Phật thuyết pháp liền cho nghe,

Vợ chồng hoan hỉ mọi bề

Đạo vàng hóa độ, quay về đường ngay.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa, phỏng theo

Truyện Cổ Phật Giáo)

Đăng bởi: vienlam | 11/02/2010

Đường xưa mây trắng – Chương 5

Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH

(Bài tiếp theo sẽ được đăng vào ngày chủ nhật 14/02/2010)


Chương 5: BÁT SỮA CỨU MẠNG


Từ hôm ấy về sau, mỗi ngày Svastika đều có ghé vào rừng thăm Siddhatta.


Những hôm nào cắt được đầy gánh cỏ thì Svastika ghé vào và ăn trưa vói Siddhatta. Nắng càng gay gắt thì cỏ càng ít đi vì vậy có hôm Svastika phải đợi đến xế chiều mới vào thăm vị sa môn trong rừng được. Có khi Svastika vào rừng thì gặp lúc Siddhatta đang ngồi thiền tọa. Những lúc ấy cậu bé chỉ ngồi ngắm Siddhatta một hồi rồi lặng lẽ đi ra khỏi rừng, sợ làm phiền nhiễu đến công phu thiền tập của thầy. Chỉ khi nào vào rừng mà gặp Siddhatta đang đi kinh hành thì Svastika mới dám đến gần để được truyện trò chốc lát.


Năm bảy hôm một lần, Svastika cùng gặp Sujata trong rừng. Hôm nào chị Sujata cũng đem dâng cho Siddhatta một nắm cơm và một ít thức ăn, hoặc muối mè, hoặc đậu phụng, hoặc nước sốt cà – ri, có hôm chị đem theo cả sữa hoặc để hồ hoặc được phèn. Hai chị em đã từng có dịp nói chuyện nhiều lần ở cửa rừng, bên cạnh những con trâu ăn cỏ. Có khi Sujata đi với cô em gái tên là Supriya, trạc chín mười tuổi. Svastika nghĩ thầm là một hôm nào đó nó cũng sẽ đưa các em nó vào rừng để thăm Siddhatta. Nó sẽ ẳm con Bhima. Bala sẽ dắt tay thằng Rupak. Thế nào chúng nó cũng lội qua sông được ở khúc sông cạn nhất gần đó.
Sujata đã kể lại cho Svastika nghe những gì mà chị ấy biết về vị sa môn tên Siddhatta. Chị ấy đã làm quen với Siddhatta mấy tháng nay rồi, và từ hôm ấy đến nay mỗi ngày chị đều có đem cơm cúng dường Siddhatta vào khoảng trước giờ ngọ. Cái hôm đầu tiên mà chị Sujata được gặp Siddhatta là một ngày rằm. Nghe lời mẹ, chị Sujata mặc sari mới màu hồng, bưng một mâm đồng đầy thức cúng vào cửa rừng để cúng các thần linh. Trên mâm có bánh, có sữa, có đề hồ, có mật. Đó là vào khoảng giữa trời trưa. Trời nắng chang chang. Mới tới bờ sông, Sujata thấy một người nằm sóng soài dưới nắng. Sujata đặt mâm xuống bên bờ cỏ và chạy tới quan sát. Người này còn thoi thóp thở. Ông ta ốm lắm, chỉ còn da bọc xương. Hai mắt ông ta nhắm nghiền. Má ông ta hóp hẳn lại như người đã lâu ngày thiếu ăn. Tóc và râu của ông ta ra dài, chắc đã lâu ngày rồi không cạo. Nhìn cách phục sức của ông ta, Sujata biết đây là một ông thầy tu núi. Vốn là một cô bé thông minh, Sujata biết rằng ông này té xỉu vì đói quá. Cô bé liền cúi xuống lấy bình sữa rót đầy vào một cái bát nhỏ đem theo. Rồi cô kê bát sữa vào môi người kia và đổ xuống từng giọt. Ban đầu người ấy không đáp ứng. Nhưng sau đó đôi môi động đậy và người ấy há miệng ra. Sujata kê hẳn bát sữa vào miệng người ấy và đổ sữa vào từ từ. Người ấy bắt đầu uống. Chẳng mấy chốc bát sữa đã cạn.


Sujata ngồi xuống một bên bờ cỏ để đợi phản ứng. Người kia từ từ ngồi dậy, mở mắt. Thấy Sujata, người ấy mỉm cười. Ông kéo chiếc khăn choàng lại trên vai, ngồi xếp bằng lại trên bờ cỏ, trong tư thế hoa sen, thân hình rất thẳng, và bắt đầu thở. Thế ngồi của ông rất vững và rất đẹp. Tưởng đây là một vị thần linh của rừng núi hiện ra để thử mình, cô bé chắp hai tay để lại xuống, nhưng người ấy đã đưa một bàn tay ra ngăn lại.

Sujata còn ngẩn ngơ thì người ấy lên tiếng nhỏ nhẹ bảo cô:


– Con rót thêm cho ta một ít sữa nữa.


Sung sướng, Sujata rót sữa đầy bát dâng lên. Người ấy tiếp lấy và uống cạn. Sữa thật là mầu nhiệm. Trong chưa đầy một khắc đồng hồ, sức khoẻ người ấy hình như đã được phục hồi. Mắt người đó thật sáng. Nụ cười người đó thật hiền. Sujata hỏi thăm về duyên cớ tại sao người ấy ngất xỉu giữa đường. Người ấy nói:


– Ta tu ở trong rừng này. Vì tu khổ hạnh lâu ngày nên thân thể ta yếu mòn. Hôm nay ta đã quyết định xuống xóm để hoá trai, nhưng đi đến đây thì kiệt sức. May mà con đến kịp để cứu ta.


Ngồi trên bờ sông, người ấy kể cho Sujata nghe sơ lược về cuộc đời tu hành của ông. Nhờ đó mà Sujata biết được rằng vị sa môn mà mình đã cứu thoát chết tên là Siddhatta, con của một vị quốc vương đang trị vì ở nước Ca-tỳ-la-vệ, Sujata ngồi nghe rất chăm chú, Siddhatta nói với cô bé:


– Ta đã thấy rằng kềm chế xác thân không phải là con đường có thể giúp con người đạt Đạo. Thân thể không phải chỉ là một dụng cụ. Thân thể là đền thờ của tâm linh, thân tể là chiếc thuyền vượt biển. Vì vậy ta đã từ bỏ con đường kềm chế xác thân bằng sự đói khát và bằng sự chịu đựng. Ta đã quyết định mỗi ngày sẽ xuống xóm để hoá trai vào giờ ngọ.


Sujata chắp tay:


– Nếu thầy cho phép thì mỗi ngày con sẽ đem dâng cúng thực phẩm cho thầy. Thầy cứ ở trong rừng mà hành đạo, đừng xuống xóm để khỏi mất thì giờ. Nhà con cũng gần đây thôi, và ba mẹ con cũng sẽ bằng lòng cho con mỗi ngày đem cơm dâng cúng cho thầy.


Siddhatta im lặng. Một lát sau, ông nói:


– Ta vui lòng nhận cơm cúng dường của con mỗi ngày. Nhưng ta cũng muốn thỉnh thoảng đi vào xóm để khất thực và tiếp xúc với bà con trong xóm. Hôm nào con đưa ta tới nhà con nhé. Ta muốn làm quen với ba và mẹ của con. Ta cũng muốn gặp các em bé khác trong xóm.
Sujata mừng rỡ. Cô bé chắp tay bái tạ. Cô rất vui khi nghĩ đến lúc được vị sa môn này ghé lại nhà và thăm ba mẹ của cô. Cô không nghĩ rằng cúng dường cho vị sa môn này là tốn kém. Gia đình cô ta là một trong những gia đình khá giả nhất ở Uruvela. Nhưng Sujata không muốn nói điều ấy ra. Cô nghĩ đây là một ông thầy tu núi rất quan trong gấp mấy lần cúng dường các vị thần núi thần rừng. Sau này mà Siddhatta tìm được Đạo thì cuộc đời sẽ được vơi bớt bao nhiêu là nỗi khổ…..


Siddhatta đã chỉ cho Sujata rặng núi Dangsiri nơi có những hang động mà Siddhatta đã từng cư trú để hành đạo. Rồi ông nói:


– Bắt đầu từ hôm nay, ta sẽ không cư trú ở đó nữa. Bên bờ sông, có một khu rừng rất mát và có một cây pippala thật sum xuê. Ngồi dưới gốc cây ta có thể thấy được cả dòng sông. Ta đã chọn nơi ấy để tu hành. Mai mốt khi con đem theo thức ăn cúng dường cho ta, con sẽ đem tới đấy. Để ta đưa con đi xem qua chỗ ấy cho biết.


Rồi ông đưa Sujata vào thăm khu rừng êm mát bên bờ sông Neranjara. Ông chỉ cho cô bé xem gốc cây pippala mà ông thường ngồi để thiền định. Sujata ngắm thân cây rồi ngửng lên nhìn cành lá. Cây lớn quá. Cây che mát cả một vùng khác rộng. Đây là một loại cây đa, lá lớn bằng bàn tay Sujata. Lá cây giống như trái tim và có những cái đuôi thật dài. Sujata nghe tiếng chim hót ríu rít. Nơi đây quả là một nơi thanh tịnh và êm mát. Sujata cũng đã có lần tới đây với ba mẹ cô để dâng cúng phẩm vật cho thần linh.


– Vậy đây là nhà mới của thầy, có phải thế không?
Sujata nhìn Siddhatta với hai mắt to và tròn lấp láy. Mỗi ngày con sẽ vào đây thăm thầy.


Siddhatta gật đầu. Ông đưa tiễn Sujatara cửa rừng, rồi trở về gốc cây ngồi thiền tọa.


Từ hôm đó, ngày nào Sujata cũng mang cơm hoặc bánh vào cúng dường vị sa môn, trước khi mặt trời đứng bóng. Có khi cô bé mang theo cả sữa, hoặc đề hồ. Có khi Siddhatta cầm bát tự mình đi vào làng khất thực. Ông đã gặp đựoc cha mẹ của Sujata, và biết rằng cha của Sujata là vị hương cả trong làng. Sujata cũng đưa cho ông đi và gặp những đứa trẻ khác mà cô bé quen ở trong xóm. Cô cũng đưa ông ta tới nhà người thợ cạo và nhờ người này cạo sạch tóc và râu cho vị sa môn. Sức khỏe của Siddhatta phục hồi thật mau chóng. Siddhatta cũng cho cô bé thí chủ biết rằng công phu thiền quán của người đang mang lại nhiều hoa trái quan trọng. Cho đến một hôm, Sujata được gặp Svastika.


Hôm ấy Sujata đến sớm và đã được Siddhatta nói cho nghe về cuộc gặp gỡ với Svastika chiều hôm trước. Sujata vừa mới ngỏ ý muốn được gặp Svastika thì Svastika đã hiện ra trong rừng. Sau này có dịp gặp Svastika, Sujata đã hỏi thăm về các em của Svastika. Và Sujata cũng đã cùng với Purna tới nhà Svastika chơi. Purna là con hầu mới của Sujata. Con hầu cũ, tên là Radha, đã bị bệnh thương hàn chết cách đây hai tháng. Trong những lần thăm viếng sau này Sujata đã đem cho các em của Svastika một ít áo quần cũ nhưng lại rất tốt. Và Sujata đã ẵm bé Bhima trước sự ngạc nhiên của con hầu Purna. Sujata dặn Purna đừng mách cho ba mẹ cô biết là cô đã ẵm trong tay một em bé ngoại cấp.


Một bữa trưa hôm nọ, bọn trẻ rủ nhau vào thăm Siddhatta khá đông. Các em của Svastika đều có mặt. Sujata rủ theo Balagupta, Vijayasena. Ulluvillike và Jatilika. Bốn người này đều là bạn gái của Sujata. Sujata cũng mời được chị họ là Nandabala cùng đi. Chị Nandabala đã mười sáu tuổi. Anh Nalaka năm nay đã mười bốn. Còn Subash mới chín tuổi. Mười một đứa ngồi thành một vòng cung trước mặt Siddhatta.


Hôm ấy ngoài ngoài thức ăn đem theo để cúng dường vị sa môn, bọn trẻ còn đem theo thức ăn trưa của chúng. Sau khi dâng cơm cho Siddhatta, bọn trẻ cũng mở thức ăn của mình ra ăn trong yên lặng. Bala và Rupka đã được anh dặn dò và huấn luyện kỹ càng rồi cho nên chúng ngồi ăn thật nghiêm trang. Bé Bhimba mở to mắt nhìn mọi người: chưa bao giờ bé thấy nhiều người như thế. Bé ngồi thật ngoan trong lòng Svastika và không hề khóc.


Hôm ấy Svastika đã cúng dường một ôm cỏ mới cho Siddhatta. Hôm ấy Svastika cũng đã nhờ đứa bạn chăn trâu của nó là thằng Gavampati coi trâu dùm trong giấc trưa. Ngoài ruộng trời đã nắng gắt lắm nhưng trong rừng bọn trẻ đang cùng với vị sa môn ngồi trong bóng cây im mát. Cây pippala này lớn quá, cành lá xoè ra che mát cả một vùng lớn bằng cả mười mấy căn nhà.


Bọn nhỏ chia xớt thức ăn cho nhau. Rupka và bé Bala hôm nay được ăn bánh chappati với nước xốt cà-ri. Chúng cũng được ăn cơm trắng chấm muối đậu phụng và muối mè. Sujata và Balagupta đã đem đủ nước uống cho mọi người. Không khí ở đây thật lặng lẽ, nhưng niềm vui ở đây thật lớn lao.


Hôm ấy theo lời của Sujata thỉnh cầu, Siddhatta đã kể cho bọn trẻ nghe về cuộc đời của mình.


Bọn trẻ đã ngồi nghe say mê từ đầu đến cuối.

Đăng bởi: vienlam | 09/02/2010

Nghệ thuật sống hạnh phúc

Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH

Nguồn: Báo Giác Ngộ số 522-523


Nghệ thuật sống hạnh phúc là nghệ thuật tạo dựng và duy trì hạnh phúc. Trong đời sống hàng ngày chúng ta có những cảm thọ, những cảm thọ dễ chịu hay những liên hệ trực tiếp với những cảm thọ dễ chịu ấy. Chúng ta có thể hình dung hạnh phúc là những bông hoa trong khu vường mà người làm vườn có thể chế tác được. Nếu người làm vườn có thể chế tác được những bông hoa thì người hành giả cũng có thể chế tác được hạnh phúc.


Trong một khu vườn, chúng ta thấy có hoa và có rác. Người làm vườn biết chế tác những bông hoa những cũng biết xử lý những cọng rác. Giữa hoa và rác có sự liên hệ. Trong khi chế tác bông hoa, người làm vườn có thể sử dụng rác để làm phân nuôi dưỡng hoa. Nghệ thuật xây dựng và duy trì hạnh phúc có liên hệ đến nghệ thuật xử lý khổ đau. Nếu không có khả năng xử lý khổi đau thì ta cũng không có khả năng tạo dựng hạnh phúc. Hai công việc đó có liên hệ với nhau. Chủ đề Nghệ thuật tạo dựng hạnh phúc có liên hệ mật thiết với chủ đề Nghệ thuật xử lý và chuyển hóa nỗi đau, chúng đan xen vào nhau. Khi biết tạo dựng hạnh phúc thì đồng thời ta biết xử lý và chuyển hóa khổ đau. Khi biết xử lý và chuyển hóa nỗi đau thì đồng thời ta cũng biết tạo dựng hạnh phúc. Tuy là hai công việc nhưng kỳ thực chỉ là một. Nghệ thuật xử lý khổ đau là nghệ thuật tạo dựng hạnh phúc là tại vì, hạnh phúc là sự vắng mặt của khổ đau và khổ đau là sự vắng mặt của hạnh phúc.


Người làm vườn biết xử lý hoa và rác thì người tu (hành giả) phải biết xử lý hạnh phúc và khổ đau. Anh chị phải có khả năng tạo dựng hạnh phúc và phải có khả năng chuyển hóa khổ đau. Chừng nào còn chưa được làm được việc đó thì anh chị chưa phải là người tu giỏi. Anh chị phải học và phải xử lý cho được. Xử lý, tiếng Pháp là gérance (gérer une soufrace, gérer un bonheur), tiếng Anh là handling (handling of happiness, handling of suffering). Là một hành giả, chúng ta phải biết làm chuyện đó. Khi có người hỏi: “Anh chị là người thực tập, anh chị có khả năng chế tác niềm vui, chế tác hạnh phúc không? Hãy làm cho tôi xem đi!”, thì chúng ta phải làm liền. Như khi có người hỏi: “Chị có biết làm đậu hủ (đậu phụ) không? Anh có biết nấu canh chua không?” thì chúng ta phải làm được liền, nấu được liền. Với hạnh phúc và khổ đau cũng vậy, chúng ta phải có khả năng tạo dựng được một phút giây hạnh phúc, chúng ta phải có khả năng xử lý được một nỗi khổ niềm đau. Nếu chưa biết thì ta phải học làm, làm cho mình trước rồi sau đó ta mới có khả năng giúp được người kia.


Chúng ta chỉ nói Nghệ thuật hạnh phúc (Art of happiness) mà không nói đến Nghệ thuật khổ đau (Art of suffering), nhưng thực ra hai cái đó là một. Art of happiness và Art of suffering là một tại vì hạnh phúc hạnh phúc và khổ đau tương tức. Người tu phải xử lý được thân của mình vì thân thể là nền tảng của nhiều khổ đau và của nhiều hạnh phúc. Thân làm phát sinh ra cảm thọ, vì vậy người tu hành phải quán thân, phải biết chăm sóc thân và phải biết xử lý thân của mình. Tu không phải chỉ tu tâm mà phải tu cả thân nữa.


Ở Làng Mai, chúng ta hay nói thân như một dòng sông, trong đó mỗi tế bào là một giọt nước. Dòng sông hình hài luôn luôn tuôn chảy và chuyển biến. Ta học nhìn hình hài của mình như một cái gì linh động, luôn luôn chuyển biến chứ không phải như là một thực tại cứng ngắc, bất động. Đó là dòng sông sắc thân.


Người hành giả phải thấy đi đôi với dòng sống sắc thân đó còn có dòng sông cảm thọ. Cảm thọ này nối tiếp cảm th ọ khác, có khi có hai hay ba cảm thọ cùng khởi lên một lúc. Ví dụ một người vừa nhận một khoản tiền bất chính, người ấy vừa mừng, vừa lo sợ, vừa ít nhiều mặc cảm. Dòng sông cảm thọ cũng là đối tượng chăm sóc của mình. Người tu phải biết quán chiếu và chăm sóc từng cảm thọ mỗi khi thấy nó phát khởi trong tâm. Nếu dòng sông sắc thân có hàng tỷ giọt nước gọi là tế bào thì dòng sông cảm thọ cũng có hàng tỷ giọt nước cảm thọ. Mỗi khi có một giọt nước cảm thọ phát hiện thì chúng ta phải nhận diện được nó, nhìn sâu vào để thấy được bản chất, thấy được gốc rễ của nó thì mới xử lý được.


Có một dòng sông khác gọi là dòng sông tâm hành. Chúng ta có cái buồn, cái lo, cái sợ, cái ghét, chúng ta có cái thương, cái tha thứ bao dung. Mỗi người có tất cả 51 tâm hành, có tâm hành tốt, tâm hành xấu và tâm hành trung tính (có thể trở thành tốt hoặc trở thành xấu). Giống như những cảm thọ, người tu phải có khả năng nhận diện và xử lý những tâm hành khi chúng phát hiện. Khi cái giận phát hiện thì chúng ta phải nhận diện, ta phải biết được gốc rễ của cơn giận. Nó phát xuất từ chỗ nào và tại sao nó phát xuất? Do sự nhận diện và sự hiểu biết đó ta có khả năng xử lý được cơn giận, xử lý được tâm hành của mình.


Cuối cùng hành giả phải nhìn vào dòng sông pháp tức dòng sông tri giác (tưởng). Pháp là đối tượng của tri giác (perception) tức nhận thức của ta về thân, về thọ, về tâm và những hiện tượng khác. Núi sống, cây cỏ, tinh tú, v.v… đều là những đối tượng của nhận thức. Đó là bốn lãnh vựa của sự quán chiếu: thân, thọ, tâm, pháp. Pháp là đối tượng của tri giác. Tri giác sai lầm đưa đến những giận hờn, sợ hãi, lo lắng và những giận hờn, sợ hãi, lo lắng đó tạo ra cảm thọ đau buồn. Thân của mình có thể chứa đựng sự căng thẳng, đau nhức, bệnh tật hay sự xung đột bên trong. Trong dòng sông thân có thể có sự xung đột giữa các yếu tố đất, nước, gió, lửa và sự căng thẳng trong thân đưa tới những cảm thọ đau nhức. Nếu không biết chăm sóc thân, tâm hành và tri giác thì có thể đưa đến sự phát sinh của những cảm thọ đau đớn. Người tu không phải chỉ biết chăm sóc cảm thọ mà còn phải biết chăm sóc thân, tâm hành và tri giác của mình.


Nếu có một cảm thọ đau nhức thì ta phải nhìn sâu vào cảm thọ đó. Ta có thể thấy được gốc rễ của nó, nó tới từ thân hay từ tri giác hay từ những tâm hành như lo lắng, sợ hãi, buồn khổ? Đây là toàn thể khu vườn của người làm vườn. Nếu giỏi thì người làm vườn biết xử lý những yếu tố về thân, về tâm và về pháp để đưa tới sự chế tác những bông hoa lạc thọ và đồng thời xử lý được những cọng rác khổ thọ.


Chúng ta quán thân, nhìn vào thân để nhận diện những mầu nhiệm cũng như những đau nhức, những xung đột trong thân để chuyển hóa những cảm thọ đau buồn đến từ thân. Chúng ta quán chiếu tri giác và tâm hành của mình để hiểu rõ gốc rễ của tâm hành đó. Như tâm hành giận dữ, sợ hãi và lo lắng đưa tới nỗi khổ niềm đau. Ta phải quán chiếu những tâm hành này để thấy được gốc rễ của nó từ nơi tri giác của mình. Chuyển hóa được tri giác sai lầm thì những sợ hãi, lo lắng không còn nữa và những nỗi khổ niềm đau trong phạm vi cảm thọ sẽ tan biến. Vấn đề ở đây là không phải chỉ xử lý những cảm thọ mà phải xử lý sắc thân, tâm hành và tri giác của mình. Học Duy Biểu chúng ta biết có 51 tâm hành và bản chất của các tâm hành như: cái giận, cái sợ, cái lo, cái tham đắm. Mỗi khi một tâm hành phát hiện thì ta phải nhận diện, ta phải gọi tên tâm hành đó cho được. Ta phải biết bản chất của nó và phải nhìn sâu để biết nó phát xuất từ chỗ nào? Tất cả những hiểu biết này rất cần thiết để giúp hành giả xử lý nỗi khổ niềm đau và đồng thời cũng chế tác được niềm vui hạnh phúc của mình.


Làng Mai hay nói đến tính tương tức giữa cái này và cái kia. Chúng ta hay đưa ra hình ảnh của sen và bùn. Nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Nhìn vào sen ta thấy bùn và nhìn vào bùn ta thấy được khả năng làm ra sen. Khổ đau và hạnh phúc cũng vậy. Trong vị ngọt của hạnh phúc, nếu quán chiếu kỹ và tiếp xúc sâu thì mình có thể nhận diện được vị đắng của khổ đau. Nhưng đôi khi vị đắng của của khổ đau lại làm cho vị ngọt của hạnh phúc sâu đậm hơn. Như lúc nấu chè, thỉnh thoảng nếu bỏ thêm vào chút muối, vị mặn của muối sẽ làm cho vị ngọt của chè đậm đà hơn.


Nếu quán chiếu kỹ thì ta thấy, hạnh phúc tùy thuộc vào tâm của mình hơn là tùy thuộc vào hoàn cảnh. Những gì xảy cho mình tùy thuộc vào cách mình nhìn sự việc đó, tùy theo cách mình nhìn mà nó trở thành niềm vui hay nỗi khổ. Ví dụ buổi sáng thức dậy sớm để đi ngồi thiền đó là niềm vui hay nỗi khổ? Mình mở cửa, đi ra, bước từng bước chân tới thiên đường. Khi ấy mình có hạnh phúc hay không có hạnh phúc không phải tại vì có cái cửa, có thiền đường, có con đường từ cửa tới thiên đường, có hai chân và có giây phút đi ra thiền đường, mà nó tùy vào cách nhìn vào sự kiện đó. Nếu có chánh niệm, có ý thức thì mình có thể có hạnh phúc trong khi mở cửa, được tiếp xúc  với không khí trong lành mát lạnh của bên ngoài, đó là một niềm vui. Bước chân đi cũng có thể trở thành một niềm vui. Bằng không thì đang ngủ ngon mà phải thức dậy là đau khổ, bước ra ngoài tiếp xúc với cái lạnh là đau khổ, phải bước chân tới thiền đường cũng là đau khổ. Nhưng nếu nhớ lại hai tuần trước mình lên cơn sốt phải nằm trên giường không đi đâu được, môi khô miệng đắng, đầu đau như búa bổ, lúc ấy mình ao ước được đi ra ngoài. Bây giờ hãy đưa ký ức đó trở về, đem bối cảnh của quá khứ trở về với giây phút hiện tại  thì mình sẽ thấy được mở cửa bước ra ngoài là một niềm hạnh phúc. Do đó hạnh phúc hay khổ đau là do tâm chứ không phải là do cảnh.


Quý vị đã từng thấy một xác chết chưa? Một người thân chết nằm trên giường hay một con chim đã chết. Dù là một em bé năm, sáu tuổi cũng đã có cơ hội thấy một cái chết. Con chim chết nằm cứng đơ không bay được nữa, một người già hay một em bé chết cũng cứng đơ không cử động được. Dù có làm cách nào đi nữa thì con chim kia cũng không bay được, cái xác kia cũng không ngồi dậy, bước đi hay chạy nhảy được.


Trong thời gian Tăng thân ở San Diego, một số các thầy, các sư cô được xem một cuộc triển lãm gọi là Body World, trong đó người ta trưng bày toàn là xác chết, xác chết của người thật, đó là những người đang còn rất trẻ, còn khỏe mạnh nhưng bị bệnh gì đó mà chết. Có những thân hình rất đẹp của những người thanh niên vạm vỡ. Triển lãm trưng bày hàng trăm xác chết đứng trong những tư thế khác nhau. Có người đang đứng trong tư thế trượt tuyết, có người đang đứng trong tư thế chơi bóng rổ… Người ta dùng thủ thuật ướp xác để giữ cho xác chết được nguyên vẹn. CHúng ta có thể nhìn được những bắp thịt, thỉnh thoảng người ta xé một miếng trên thân thể xác chết để mình có thể thấy được phía trong. Thăm triển lãm này mình được tiếp xúc trực tiếp với những hình hài thật của con người. Có những người còn trẻ lắm nhưng đã chết. Đi xem cuộc triển lãm như thế trong vòng một hai giờ, cũng giống như ta được thiền quán về  cái chết suốt một hai giờ đồng hồ. Đến khi đi ra khỏi triển lãm thì những hình ảnh đó sẽ đi theo mình, mình biết thế nào mai một mình cũng sẽ chết, không chết vì bệnh thì cũng chết vì già. Tất cả mọi người dinh ra đều phải chết. Khi bước đi một bước mà mình nhớ lại hình ảnh của những xác chết kia thì mình thấy rất rõ là mình còn đang sống, đang cử động, đang bước được những bước chân thì đó là những gì rất mầu nhiệm. Tự nhiên mình trân quý những bước chân và mình thấy hạnh phúc.


Thở vào, mình để ý tới hơi thở vào, đem tâm trở về với thân, thật sự có mặt trong phút giây hiện tại, bước một bước, mình tiếp xúc được với sự thật là mình chưa chết, mình vẫn còn sống. Mình bước một bước và nói: “Tôi bước cho anh đây. Anh cứng đơ không bước được”. Bước được một bước tại vì mình còn là một cơ thể đang sống, mình thấy đây là một sự thật rất là mầu nhiệm.


Trong khóa tu tại Mỹ, lúc ấy tôi đang ở tu viện Bích Nham thì nghe tin Sư thúc nhập diệt. Tôi đã đi thiền hành cho Sư thúc. Sư thúc đã nhập tháp không còn đi được nữa và tôi đã đi cho Sư thúc, Sư thúc đã bước đi bằng đôi chân của tôi, những bước chân như vậy rất mầu nhiệm và tôi trân quý những bước chân mà mình đang bước. Bước một bước là thấy được tất cả sự mầu nhiệm của một cơ thể còn sống, đó là một niềm vui, một lạc thọ. Chính cái tháy về cái chết đã làm nổi bật lên cái thấy về cái sống. Nhìn kỹ một bông hoa sen mình tiếp xúc được với bùn. Trong lạc thọ mình đang có, có chất đắng của khổ thọ ở trong, nhờ vậy mà lạc thọ càng rõ ràng hơn.


Cả tháng nay mỗi khi thực tập mười động tác chánh niệm, tôi đều làm cho tất cả những xác chết trong phòng triển lãm ấy. Mỗi khi tôi đưa tay lên tôi quán tưởng tất cả những xác chết ấy cùng đưa tay lên một lượt với tôi. Tôi tiếp xúc với từng cảm thọ xảy ra trong từng bắp thịt. Quý vị thử đi! Thử đưa tay lên giùm họ đi, đưa tay dài thẳng lên, rồi từ từ buông xuống, hết sức là mầu nhiệm. Tôi đã quán chiếu như vậy suốt mười mấy phút tập thể dục của mình. Cũng như khi tôi đi thiền hành cho Sư thúc, trong vị ngọt của lạc thọ có chứa đựng vị đắng của khổ thọ, trong sen có bùn. Bây giờ hình hài của Sư thúc nằm trong tháp, Sư thúc không đi thiền hành với mình nữa thì mình đi cho Sư thúc. Tôi nhớ lúc Sư thúc qua Làng Mai lần đầu, tôi đã đưa Sư thúc đi thiền hành khắp nơi, xóm Hạ, xóm Mới, xóm Thượng, Sơn Hạ. Sư thúc nói: “Đất chùa bên này lớn hơn cả cái xã Thủy Xuân bên chùa Tổ”. Sư thúc đã nếm được pháp môn thiền hành, đã thấy được pháp lạc khi đi từng bước chân. Có hình chụp Sư thúc đang nắm tay tôi đi thiền hành, rất đẹp. Sư thúc còn có cơ hội qua làng lần thứ hai và cũng đi thiền hành trên những con đường đó, rất mầu nhiệm. Bây giờ mình đi cho Sư thúc. Đi cho Sư thúc thì bước chân thiền hành của mình có phẩm chất hơn. Mình đi cho bất kỳ ai cũng được.


Mình cũng có thể đi cho mình, tại vì một ngày nào đó nếu không vào tháp thì mình cũng vào một chỗ khác thôi. Trong giai đoạn này mình đi cho mình ở những giai đoạn kia. Quý vị làm được không? Tôi đã làm rồi, rất là hay! Mình đừng đợi người khác đi cho mình, bây giờ mình đi cho mình đi! Quý vị có hiểu tôi muốn nói gì không? Đừng đợi sau khi mất, nằm xuống đó rồi sẽ có người đi cho mình. Bây giờ mình phải tự đi cho mình. Như vậy mỗi bước chân sẽ đem lại an lạc và hạnh phúc, rất là mầu nhiệm. Qua đó chúng ta khám phá ra một điểu: trong vị ngọt của hạnh phúc luôn luôn có vị đắng của khổ đau.


Trong khi chơi đá bóng mà muốn có hạnh phúc thì mình phải nghĩ tới thời gian mình đau liệt giường liệt chiếu, không cựa quậy được. Mình nhảy lên, tung quả bóng lên rất hạnh phúc tại vì chính trên bối cảnh của khổ đau mà hạnh phúc được nhận diện rõ ràng.


Khi đã trải qua chiến tranh giặc giã rồi thì kinh nghiệm về chiến tranh là những hình ảnh của khổ đau. Được sống trong hoàn cảnh không có súng đạn, không có giết chóc mình đem cái hòa bình đó đặt trước bối cảnh của chiến tranh thì hòa bình hiện lên rõ ràng như một cái gì rất đáng quý. Nếu không thì chúng ta không biết trân quý hòa bình. Mình trân quý hòa bình từng giờ từng phút. Trong thời chiến tranh, lâu lâu người ta chấp nhận đình chiến trong vòng 24 giờ đồng hồ. Trong 24 tiếng đó nhiều người trong và ngoài nước thở được. Mình tưởng tượng cây cối cũng không có sợ hãi, dám vươn lên, mọc thêm, chứ đừng nói gì đến chim chóc và con người. 24 giờ hòa bình đó là rất nhiều, rất là hạnh phúc. Nếu ai đã đi ngang qua chiến tranh như chiến tranh Việt Nam ngày trước hay chiến tranh Iraq thì mình biết một ngày đình chiến vô cùng quý giá. Mình ước mong tại sao người ta không đình chiến thêm 24 giờ đồng hồ nữa?


Quý vị sinh ra vào thời bình, quý vị không thấy được sự quý giá của 24 giờ đình chiến. Tôi nhớ hồi đó, tôi bôn ba đi tranh đấu cho hòa bình, mỗi khi có 24 giờ đình chiến là tôi thấy khỏe nhẹ vô cùng. Tôi biết trong giờ phút đó đồng bào ở nhà không có ai chết, súng đạn im hơi được 24 giờ. Mình hỏi tại sao loài người lại dại dột như vậy? Tại sao không kéo dài đình chiến trong vài ngày nữa? Có những thanh niên chưa biết chiến tranh là gì, chưa biết khổ đau của chiến tranh là gì nên họ không có khả năng thưởng thức và thấy được giá trị của hòa bình.


Trong Kinh Niệm Xứ, phần quán niệm về tâm trong tâm, chúng ta đọc: “Mỗi khi có tâm hành giận phát hiện thì hành giả biết tâm hành giận đang hiện hữu. Mỗi khi có tâm hành tham dục phát hiện thì hành giả biết tâm hành tham dục đang có mặt”. Cố nhiên khi có tâm hành giận dữ hoặc đam mê phát hiện thì chúng ta phải nhận diện để ôm ấp và chuyển hóa chúng. Nhưng kinh cũng có nói: Mỗi khi không có tâm hành giận dữ thì mình phải ý thức rằng, không có tâm hành giận dữ trong mình. Mỗi khi không có tâm hành tham đắm thì hành giả nói, không có tâm hành tham đắm trong tôi. Nếu không đọc kinh với tính cách của một hành giả thì chúng ta hỏi, tại sao lại phải nói dư ra như vậy: Khi có tham đắm thì biết là có tham đắm, khi không có tham đắm thì biết là không có tham đắm. Khi có giận dữ thì biết là có giận dữ, khi không có giận dữ thì biết là không có giận dữ. Trong kinh cứ lặp đi lặp lại như vậy, mình có cảm tưởng viết như vậy là dư thừa, nhưng kỳ thực không dư thừa chút nào. Khi quý vị không có tâm hành giận dữ thì nghĩa là quý vị có hạnh phúc, nhưng quý vị không biết đó là hạnh phúc, đến khi có tâm hành giận dữ phát hiện rồi thì mình mới biết không có giận dữ là hạnh phúc. Trước đây mình tưởng không có giận dữ là bình thường, là không phải hạnh phúc. Hạnh phúc vốn là sự vắng mặt của khổ đau, cũng như hòa bình là sự vắng mặt của chiến tranh. Khi có đam mê thì mình khổ và khi không có đam mê là hạnh phúc nhưng mình không biết trân quý điều đó. Trong kinh nói: “Mỗi khi không có đam mê thì hành giả phải biết rằng, trong mình không có đam mê”. Mình phải nhớ, có đam mê thì khổ lắm. Câu “trong tôi không có đam mê” có nghĩa “có đam mê thì khổ lắm”.


Ở Làng Mai chúng ta hay nói tới chuyện đau răng. Nửa đêm lúc một, hai giờ khuya tự nhiên mình đau răng quá. Mình biết ông nha sĩ không mở cửa trước chín giờ sáng và mình phải chịu khổ từ bây giờ cho đến chín giờ sáng. Lúc đó mình giác ngộ ra sự thật: không đau răng là mầu nhiệm, không đau răng là hạnh phúc. Theo nguyên tắc của kinh thì chúng ta thực tập như thế này: Khi đau răng thì tôi biết là có đau răng, khi tôi không đau răng thì tôi phải biết là tôi không đau răng. Khi biết không đau răng thì tôi phải biết là tôi không đau răng. Khi biết không đau răng thì tự nhiên mình có hạnh phúc. Cái không đau răng chỉ được nhận diện trên bối cảnh của chiến tranh mà thôi. Khổ đau và hạnh phúc dính liền nhau rất mật thiết, không khổ đau thì không nhận diện được hạnh phúc. Vì thế có kinh nghiệm, có ký ức về khổ đau rất quan trọng. Nếu quý vị đã từng có khổ đau, đã từng đi qua khổ đau thì cái đó rất quý tại vì nhờ đó mà mình nhận diện được những giây phút hạnh phúc có thể có được. Vì vậy người hành giả phải có khả năng chế tác ra hạnh phúc, mình chỉ cần nhớ tới khổ đau của quá khứ là có thể tiếp xúc được với hạnh phúc trong hiện tại rồi. Mỗi giây phút của đời sống hàng ngày có thể là một giây phút hạnh phúc nếu mình đặt giây phút đó trên bối cảnh của khổ đau quá khứ và khổ đau mà mình biết cách xử lý và ôm ấp thì, tuy khổ đau còn đó nhưng mình đã hết khổ tại vì mình thấy rõ là mình có thể làm gì đó để xử lý khổ đau.


Có những người khổ đau mà cứ ngồi như vậy để chịu chết, để cho khổ đau tràn ngập, chế ngự, nghiến nát mình. Là hành giả, mình phải biết làm cái gì đó, mình có thể nói: Đây là bìn là cái mình rất cần để nhận diện và chế tác ra hoa sen. Chỉ cần thấy như vậy thì tình trạng thay đổi liền lập tức. Người hành giả phải có khả năng quản lý khổ đau của mình, nếu biết quản lý khổ đau thì sẽ có khả năng chế tác hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc dính liền với nhau.


(Theo bản phiên tả pháp thoại ngày 26/11/2009 do Chân Giác Lưu thực hiện)

Đăng bởi: vienlam | 07/02/2010

Đường xưa mây trắng – Chương 4

Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH

(Bài tiếp theo sẽ được đăng vào thứ tư 10/02/2010)


Chương 4: CHIM THIÊN NGA TRÚNG TÊN


Ngày hôm sau, Svastika thả trâu bên bờ sông và bắt đầu cắt cỏ ngay từ buổi sáng.


Đến trưa nó đã cắt cỏ xong và nhét đầy cứng hai cái giỏ. Để gánh cỏ bên này sông, Svastika lùa trâu sang bên kia sông. Bên kia sông chỉ có rừng mà không có ruộng lúa, thành ra Svastika thường cho trâu ăn bên ấy để có chút thì giờ ngả lưng trên đám cỏ non bên bờ sông gió mát. Nó chỉ đem theo chiếc liềm. Chiếc liềm đối với nó rất quý giá vì đó là phương tiện sinh sống của nó.


Qua bên kia sông, Svastika dở nắm cơm mà Bala đã gói cho nó từ hồi sáng trong một tờ lá chuối. Vừa định bốc cơm ăn thì nó nhớ đến vị sa môn trong rừng. Nó nhớ đến Siddhatta. “Mình có thể đem cơm này chia xẻ với người ấy. Người ấy chắc là sẽ không chê cơm của mình là hèn mọn đâu”.


Nghĩ như thế, Svastika gói nắm cơm trở lại. Nó lùa đàn trâu về ăn phía cửa rừng.


Rồi nó theo lối cũ, tìm về chốn gặp gỡ chiều qua.


Từ xa, nó đã thấy dáng của Siddhatta, ngồi dưới gốc cây đại thọ pippala. Nhưng Siddhatta không ngồi một mình. Trước mặt Siddhatta còn có một người khác. Đó là một cô bé trạc tuổi Svastika, ăn mặc rất tươm tất. Cô bé vận sari màu trắng đang ngồi nhìn Svastika ăn cơm. Svastika dừng lại. Nhưng Svastika đã ngửng lên, và đã trông thấy Svastika.


– Svastika!


Người ấy vừa gọi vừa đưa tay vẫy ra hiệu cho nó lại gần. Cô bé cũng nhìn ra. Svastika nhận ra cô bé nầy. Nó chưa biết tên cô bé nhưng đã gặp cô bé một vài lần trên đường làng. Svastika bước tới gần. Cô bé ngồi xích ra một bên. Siddhatta chỉ một chỗ ngồi trước mặt và ra hiệu cho Svastika ngồi xuống. Trước mặt Siddhatta, có một mảnh lá chuối tươi. Trên mảnh lá chuối là một nắm cơm và một ít muối mè. Siddhattachỉ mới bẻ nắm cơm ra làm hai chứ chưa bắt đầu ăn.


– Em ăn cơm chưa? Siddhatta nhìn Svastika.


– Thưa chú, con chưa ăn.


– Vậy chúng ta cùng ăn cơm với nhau cho vui được không?
Nói xong Siddhatta trao cho Svastika một nắm cơm. Svastika cung kính chắp tay nhưng không nhận. Nó đưa nắm cơm của nó ra:


– Con cũng có đem cơm theo đây.


Rồi nó mở gói cơm. Cơm của Svastika là cơm gạo đỏ không trắng trẻo như cơm của Siddhatta. Với lại nó không có muối mè. Nó chỉ vài hạt muối trắng. Siddhatta mỉm cười nhìn hai đứa trẻ:


– Vậy chúng ta gom lại và cùng ăn chung được không? Nói xongSiddhatta lấy một nửa nắm cơm hẳm của Svastika và ăn ngon lành. Svastika hơi bỡ ngỡ; nhưng thấy Siddhatta ăn cơm rất tự nhiên nó cũng đưa cơm lên ăn.


– Cơm của chú dẻo, mềm và thơm lắm, nó nói.


– Đó là cơm của Sujata đem cho, Siddhatta vừa nói vừa nhìn cô bé.


À thì ra cô bé này tên Sujata. Svastika nhìn kỹ lại. Cô bé này lớn hơn mình, có lẽ lớn hơn một hoặc hai tuổi. Hai mắt cô ta to đen lay láy.


Svastika ngừng nhai, nói:


– Em có gặp chị mọt vài lần trên đường làng. Em không biết chị tên Sujata.


Sujata nói:


– Chị là con gái ông hương cả làng Uruvela. Còn em, có phải em là Svastika không? Thầy Siddhatta vừa kể chuyện em cho chị nghe xong. Này Svastika, em đừng kêu thầy Siddhatta là “chú” nữa. Thầy là sa-môn mà, mình kêu thầy bằng thầy thì đúng hơn.


– Dạ.


Siddhatta ngừng nhai nhìn hai đứa trẻ mỉm cười.


– Như vậy là ta khỏi giới thiệu hai con với nhau. Nầy các con, thầy thường ăn cơm trong im lặng. Những hạt cơm và những hạt mè mà các con đem đến quý giá vô cùng. Ta muốn ăn cơm trong im lặng để thấy được giá trị của những hạt ấy. Sujata, chắc con ít có dịp được ăn cơm gạo đỏ. Có thể là con đã ăn cơm rồi, nhưng con nên ăn một miếng cơm gạo đỏ của Svastika đem đến. Ngon lắm đó con. Bây giờ chúng ta nên im lặng mà ăn.


Xong bữa cơm thầy sẽ nói chuyện cho hai con nghe.


Siddhatta bẻ một miếng cơm từ nắm cơm của Svastika và trao cho Sujata. Cô bé chắp tay thành búp sen, kính cẩn nhận lấy. Ba người lặng lẽ ngồi ăn cơm trong cảnh rừng trưa u tịch.


Sau khi cơm và muối mè đã hết, Sujata thu lượm các mảnh lá chuối lại. Cô lấy bình nước trong để bên cạnh, rót vào một cái bát bằng đá duy nhất mà cô đem theo và dâng lên. Siddhatta tiếp nhận bát nước và trịnh trọng đưa mời Svastika. Svastika vội nói:


– Con xin mời chú, à quên… mời thầy uống trước.


Siddhatta nhìn nó, ôn tồn nói:


– Con uống trước. Thầy muốn con uống trước. Và ông nâng bát lên bằng cả hai tay.


Svastika hơi luống cuống nhưng không còn cách nào từ chối. Nó chắp tay lại, đón lấy bát nước và đưa lên uống một mạch cạn chén, rồi trao bát lại cho Siddhatta, cũng bằng hai tay. Siddhatta chìa bát ra để Sujata rót bát thứ hai. Khi bát nước đã đầy ông nâng lên với dáng điệu cung kính và thong thả uống từng ngụm nhỏ. Uống xong bát nước, Siddhatta lại chìa bát ra để Sujata rót cho bát thứ ba. Bát này Siddhatta đưa lên mời Sujata. Sujata đặt bình nước xuống trước mặt. Cô chắp hai tay và nhận lấy bát nước. Hồi nãy đến giờ mắt Sujata không ngừng quan sát hai người. Bây giờ cô mới nâng bát nước lên và uống từng ngụm nhỏ giống như Siddhatta vừa uống. Sujata ý thức rằng đây là lần đầu tiên cô đã uống nước từ một cái bát mà một người thuộc hạng ngoại cấp đã uống. Siddhatta là thầy mình. Ông đã uống thì tại sao mình lại không uống? Tuy nhiên, cô bé không hề có cảm tưởng mình bị ô nhiễm. Bất giác cô đưa tay trái của cô ra, và sờ vào đầu tóc của cậu bé chăn trâu ngồi bên cạnh.


Cử chỉ rất bất ngờ, khiến cho Svastika không tránh kịp, Sujata đã chạm được vào đầu Svastika. Tay phải cô bé vẫn còn nâng bát nước. Sujata thu tay trái lại. Với hai tay cô nâng bát lên và uống hết nước trong chiếc bát. Cuối cùng cô bưng bát đặt xuống gốc cây, và nhìn hai người, mỉm cười.


Siddhatta gật đầu:


– Các con đã hiểu được lời ta nói. Con người sinh ra không có giai cấp. Nước mắt của người nào cũng mặn, máu của người nào cũng đỏ. Chia người ra thành giai cấp để mà kỳ thị lẫn nhau đó là một điều sai lầm. Thầy đã thấy được điều đó trong khi thầy thiền quán.


Sujata trang nghiêm:


– Chúng con là học trò của thầy và chúng con tin lời thầy dạy. Nhưng ở đời hình như không có ai nghĩ như thầy hết. Ai cũng tin rằng những người sudra và những người ngoại cấp đã được sinh ra từ bàn chân của chúa trời Phạm Thiên. Kinh điểm cũng nói như vậy. Có ai dám nghĩ khác hơn đâu.


– Thầy biết. Nhưng sự thật là sự thật, dù không có ai tin theo. Một điều sai lầm mà được hàng triệu người tin theo thì cũng là một điều sai lầm. Các con phải có thật nhiều can đảm mới có thể sống theo sự thật.


Để thầy kể chuyện này cho các con nghe. Hồi đó thầy mới có chín tuổi. Một hôm thầy đang chơi thơ thẩn một mình ở trong vườn thì có một con chim thiên nga từ trên trời rơi xuống, ngay trước mặt thầy. Con chim có vẻ đau đớn lắm. Nó quằn quại trên mặt đất. Thầy chạy tới ôm nó lên, và thấy có một mũi tên cắm sâu vào cánh nó. Thầy cầm mũi tên trong tay, ngậm miệng lại, và rút mạnh mũi tên ra. Con chim run bắn lên, và máu rỉ ra ướt đỏ cả cánh chim. Thầy vội lấy ngón tay cái ấn lên trên vết thương cho máu ngưng chảy. Ôm con chim trong tay, thầy chạy vào nhà trong đi tìm cô cung nữ Sundari. Thầy nhờ cô đi hái một nắm lá dâu nhai nhỏ và rịt lên vết thương của con chim. Con chim run rẩy. Hình như nó bị lạnh. Thầy cởi chiếc áo lông cừu ra, bọc chim vào cho chim ấm, và đặt chim gần lò sưởi.


Siddhatta ngưng lại, nhìn Svastika:


– Svastika, ta chưa nói cho con biết là hồi đó ta là hoàng thái tử, con vua Suddhodana ở thành Kapilavatthu. Điều này Sujata đã biết rồi.


Thầy đang định đi kiếm cơm nguội cho chim ăn thì Devadatta đẩy cửa chạy vào, Devadattalà em chú bác của ta, hồi đó tám tuổi. Tay Devadatta còn cầm cung và tên. Devadattahỏi:


– Siddhatta, anh có thấy một con chim trắng rơi xuống đâu đây không?


Ta chưa kịp trả lời thì Devadatta đã nhìn thấy con chim để gần lò sưởi ngự. Nó định chạy tới dành lấy con chim. Ta vội ngăn nó lại:


– Em không được lấy con chim. Con chim này là của anh.
Devadattakhông chịu:


– Con chim ấy là của em. Chính em bắn nó rơi xuống.
Lúc đó ta đứng chận trước mặt Devadatta, cương quyết không cho nó rờ tới con chim. Ta nói:


– Con chim này bị thương. Anh cứu nó. Anh che chở cho nó. Nó cần anh, chứ nó không cần em.


Devadatta là một đứa em cũng cứng đầu lắm, nó có chịu thua đâu. Nó lại là một đứa trẻ thông minh. Nó lý luận:


– Này nhé, anh nghe đây. Con chim này, khi nó còn bay trên trời, thì nó không thuộc về ai cả. Em bắn nó rơi xuống, thì lý đương nhiên nó thuộc về em.


Nghe nói như thế, thầy tức lắm. Lý luận của nó có vẻ vững chãi đanh thép, nhưng thầy thấy nó có một cái gì sai sai ở trong ấy mà không biết đích xác là sai ở chổ nào. Thầy thấy nghẹn cả họng, và rất muốn thụi nó một cái thật mạnh vào vai, nhưng thầy đã không làm thế, thầy cũng không biết tại sao. Bỗng nhiên thầy tìm thấy được cách trả lời Devadatta. Thầy nói:


– Em cũng nghe anh nói đây. Thói thường, những kẻ thương yêu nhau mới ở chung với nhau, còn những kẻ ghét bỏ nhau thì không bao giờ sống chung với nhau. Em có ý dữ muốn bắn giết con chim, như vậy em và con chim là những kẻ thù ghét nhau, làm sao con chim có thể ở chung với em được. Trong khi đó, anh cứu con chim, anh rịt vết thương cho nó, anh sưởi ấm cho nó, và anh đang đi kiếm thức ăn cho nó ăn… vậy thì anh và con chim là những kẻ biết yêu thương nhau, anh và con chim có thể ở chung với nhau… như anh đã nói, con chim nó cần anh, chứ nó không cần em.


Sujata vỗ hai tay lại với nhau kêu đốp đốp:


– Thầy nói đúng lắm! Thầy nói đúng lắm!


Siddhatta quay sang nhìn Svastika:


– Còn con , con thấy lý luận của thầy thế nào?


Svastika ngẫm nghĩ. Một lát sau nó nói:


– Con … con cũng thấy thầy có lý. Nhưng con nghĩ rằng ở đời ít ai chịu chấp nhận cái lý ấy. Phần đông người ta theo lý luận của Devadatta hơn.


Siddhatta gật đầu:


– Con nói đúng. Người đời phần lớn đều hùa theo lý luận của Devadatta. Để thầy kể tiếp cho các con nghe. Cuộc tranh chấp giữa thầy và Devadatta không đi đến đâu, vì vậy sau đó được đưa ra giữa những người lớn. Hôm đó có buổi họp trong chiều. Thầy thì ôm con chim, còn Devadattathì ôm cung tên, cả hai chạy ùa vào nhờ các quan phán xử. Lúc ấy phụ vương của thầy đang ngồi ở giữa buổi chầu. Cuộc đàm luận việc nước phải được tạm ngừng lại. Các quan nghe xong lý luận của Devadatta, thì nghe đến lý luận của thầy. Họ bàn tán phân vân, rất lâu, rất lâu, và chẳng đi đến kết quả gì cả. Số người theo phe Devadatta rất đông. Giữa lúc ấy thì phụ vương của thầy ngứa cổ. Ông ho lên mấy tiếng. Lập tức các quan đều im lặng. Ai cũng nhìn vua. Và sau đó, buồn cười chưa, một người đều nghĩ lý luận của thầy đúng hơn, và nên giao con chim cho thầy giữ. Devadatta tức lắm .


Thầy được con chim, nhưng cũng không thấy vui mấy. Bởi vì tuy còn nhỏ tuổi, thầy cũng dư sức để biết rằng sự thắng cuộc của thầy không được vẻ vang. Người ta vì nể phụ vương thầy mà cho thầy thắng cuộc chứ không phải vì họ thấy lý luận của thầy là đúng.


– Buồn quá thầy nhỉ, Sujata buộc miệng.


– Buồn thật. Nhưng lúc đó nghĩ đến sự an toàn của con chim, thầy cũng cảm thấy được an ủi ít nhiều. Nếu không thì con chim đã bị đưa xuống nhà bếp để làm thịt rồi.


– Ở đời, ít người biết nhìn bằng con mắt thương yêu. Vì vậy họ ác độc với nhau, họ không tha thứ cho nhau. Hồi ấy tuy mới có chín tuổi, thầy đã thấy được điều đó. Những kẻ yếu đuối và đứng ở cô thế thường thường là dễ bị bắt nạt và làm hại. Lý luận của thầy hồi đó, bây giờ thầy vẫn thấy có giá trị. Đó là lý luận của tình thương yêu và sự hiểu biết. Đó là sự thật có thể làm vơi bớt nỗi khổ của mọi loài. Dù số đông không công nhận thì đó vẫn là sự thật. Cho nên thầy đã dặn các con: Các con phải có thật nhiều can đảm mới có thể đứng về phía sự thật mà bảo vệ sự thật.


– Còn con chim, sau đó nó ra sao, hả thầy? Sujata hỏi.


– Thầy nuôi con chim được bốn ngày. Khi thấy vết thương nơi cánh của nó đã lành hẳn, thầy đã thả nó ra. Thầy đã dặn nó bay thật xa để đừng bị Devadatta bắn rơi một lần nữa.


Siddhatta nhìn hai đứa trẻ ngồi trước mặt mình. Cả hai đứa đang ngồi trầm ngâm, không nói năng gì. Ông lên tiếng:


– Sujata, đã đến lúc con phải về nhà kẻo mẹ con đợi. Svastika, con đi chăm sóc đàn trâu của con đi. Và nếu chưa cắt đủ cỏ thì con hãy cắt. Ôm cỏ mà con cho thầy hôm qua, thầy đã trải làm nệm ngồi, tốt lắm. Đêm qua và sáng hôm nay thầy ngồi thiền rất thành công và thầy đã đạt tới nhiều cái thấy quan trọng. Công đức của con không phải là nhỏ. Chừng nào thầy đạt được đạo quả viên mãn, thầy sẽ đem dạy cho các con. Đến giờ thầy thiền tọa rồi.


Svastika nhìn xuống. Quả thật ôm cỏ đã được Siddhatta trải làm nệm ngồi. Các lá cỏ đã cuốn tròn lại nhưng chắc chắn là cỏ còn mềm. Cậu bé nghĩ là cứ ba hôm một lần, cậu có thể dâng cho thầy một ôm cỏ mới. Cậu đứng dậy cùng với Sujata, cậu chắp tay vái chào Siddhatta. Sujata về nhà, còn Svastika thì lùa trâu về lại bờ sông cho trâu ăn cỏ.

Đăng bởi: vienlam | 03/02/2010

Đường xưa mây trắng – chương 3

Thiền sư: THÍCH NHẤT HẠNH

(Bài tiếp theo sẽ được đăng vào ngày chủ nhật 07/02/2010)


Chương 3: MỚ CỎ KUSA


Tối hôm đó trước khi đi ngủ, Svastika ngồi trước gốc tre ôn lại những gì đã xảy ra trong thời gian mấy tháng được gặp Bụt trong rừng để chiều mai kể lại cho thầy Ananda và chú Rahula nghe. Chú có cảm tưởng chú không có chuyện gì nhiều để kể. Hồi đó chú mười một tuổi. Mẹ chú vừa mất, chú phải chăm sóc ba đứa em. Em gái út của chú là bé Bhima chỉ đựơc có mấy tháng, Bhima không có sữa uống. Hồi đó Svastika đã được ông Rambhul trong xóm giao cho công việc chăn trâu.


Hồi đó đàn trâu chỉ có bốn con và một con trâu nghé. Mỗi ngày Svastika đã lén vắt sữa trâu cho em uống. Nó chăm sóc bầy trâu rất cẩn thận vì biết rằng nếu nó không được giữ trâu cho ông Rambhul thì các em nó sẽ đói. Từ ngày ba nó mất, căn nhà chưa lợp lại lần nào. Mái tranh đã nát, hễ trời mưa lớn là nhà dột, và thằng Rupka phải đi lấy mấy cái chậu sành đã mẻ ngoài hiên vào để hứng nước dột. Bé Bala mới có sáu tuổi mà đã phải học nấu cơm, ẳm em và đi nhặt củi ngoài rừng. Có khi nó phải ẳm em ra rừng, để vừa giữ em vừa nhặt củi. Còn nhỏ tuổi nhưng bé Bala đã biết nhồi bột làm bánh Chappati cho cả nhà. Mấy anh em ít khi có đủ tiền để mua bột cà – ri. Có khi lùa trâu về chuồng, đi ngang qua nhà bếp ông Rambhul nghe mùi cà ri bốc lên thơm lừng, Svastika chảy cả nước miếng.

Từ ngày ba chúng nó mất, ít có khi nào chúng nó được ăn bánh chappati cuốn hoặc chấm trong nước cà-ri nấu thịt đâu.


Áo quần của đứa nào cũng tơi tả. Svastika chỉ vận có một cái xà rông khi đi chăn trâu.


Hôm nào trời lạnh lắm, nó mới quấn thêm tấm vải màu nâu lên người. Tấm vải đã bạc màu và mốc thếch nhưng nó quý lắm, Svastika phải tìm những nơi có đủ cỏ cho trâu ăn. Nó biết hễ trâu tới nhà mà bụng còn lép là nó sẽ bị ông Ramhul đánh mắng. Một buổi chiều lùa trâu về, Svastika phải gánh theo một gánh cỏ tươi để cho trâu ăn. Đàn trâu ăn cỏ suốt đêm. Vào những hôm có nhiều muỗi, Svastika còn phải đốt lửa un khói để đuổi muỗi cho trâu trước khi ra về. Ông Rambhul trả lương cho nó bằng gạo, bột mì và muối, cứ ba hôm một lần. Có hôm đi chăn trâu về, Svastika đem được về cho Bala vài ba con cá mà nó câu được ở bờ rông Neranjara.


Một buổi chiều sau khi đã tắm xong cho trâu và đã cắt cỏ được đầy gánh, Svastika định vào rừng ngồi chơi một lát trước khi lùa trâu về chuồng. Để bầy trâu ăn ở cửa rừng. Svastika đi tìm một gốc cây để ngồi tựa lưng. Bỗng dưng nó thấy một người đang ngồi yên lặng dưới gốc một cây pippala thật lớn về phía trước, cách nó chừng hai chục sải tay.


Svastika ngạc nhiên đứng lại nhìn. Nó chưa bao giờ thấy có ai ngồi đẹp như vậy. Người ấy ngồi lưng rất thẳng, chân xếp tréo vào nhau, dáng vững chải và hùng mạnh. Mắt người ấy như là đang nhắm lại, và hai tay người ấy đang vào nhau đặt thoải mái phía giữa. Người ấy ăn mặc rất giản dị: một tấm vải màu vàng nhạt một đầu quấn phía dưới và một đầu phủ lên vai. Toàn thân người ấy tỏa chiếu một cái gì vừa thanh thoát, vừa trầm hùng và vừa an bình. Chỉ cần nhìn người ấy, người ta cũng đã cảm thấy khỏe khoắn trong mình. Tự nhiên Svastika cảm thấy một thứ tình cảm nẩy sinh trong nó và làm rung động trái tim nó. Nó không hiểu tại sao nó có cảm tình ngay với một người khi mà nó cũng chưa biết người đó là ai. Nó đứng trân trân nhìn ngắm người ấy một hồi lâu, không dám cử động.


Một lát sau người ấy mở mắt. Nhưng người ấy vẫn không trông thấy Svastika. Người ấy dao động thân thể, rồi tháo chân ra để xoa bóp. Rồi người ấy từ từ đứng dậy và bắt đầu đi từng bước chầm chầm. Vì đi về phía bên kia cho nên người ấy vẫn chưa thấy được em bé chăn trâu. Svastika vẫn đứng lặng yên nhìn người ấy đi những bước chân vững chãi, trầm lặng và nhẹ nhàng trên lối mòn của khu rừng. Đi được bảy tám bước người ấy quay trở lại, và người ấy nhận ra sự có mặt của Svastika. Thấy em bé, người ấy mỉm cười. Nụ cười thật hiền hậu và bao dung. Chưa bao giờ Svastika thấy ai cười với mình như thế. Như bị một sức hút lôi kéo, Svastika chạy về phía người ấy. Nhưng khi còn cách người ấy chừng bốn bước, Svastika ngừng lại. Nó nhớ là nó không được quyền đụng chạm vào những người thuộc giai cấp trên.


Svastika thuộc về giới ngoại cấp, nghĩa là không thuộc giai cấp nào trong bốn giai cấp của xã hội cả. Nó đã từng nghe ba nó nói rằng giai cấp Bà la môn (brahmana) là giai cấp cao quý nhất trong xã hội. Những người trong giai cấp này phần lớn là những giáo sĩ thông hiểu kinh Vệ Đà biết đọc kinh, biết cúng tế, có thể tiếp xúc với thần linh.


Khi Phạm Thiên tạo ra loài người thì Bà la môn được sinh ra từ miệng Ngài. Những người thuộc giai cấp Sát đế lợi (Ksatriya) là những người có quyền bính chính trị và quân sự, họ đã được sinh ra từ hai tay của Phạm Thiên. Những người thuộc giai cấp Phệ xà (Vaisya) là những người trong giới buôn bán, trồng tỉa, chăn nuôi và tiểu công nghệ, họ đã được sinh ra từ bắp đùi của Phạm Thiên. Còn những người thuộc giai cấp Thủ đà (sudra) là những người đã sinh ra từ hai bàn chân của Phạm Thiên. Họ thuộc về giai cấp nghèo nhất, phải làm những nghề cực nhọc mà người trong ba giai cấp trên không làm. Giai cấp ấy là giai cấp thấp nhất rồi mà gia đình Svastika lại thuộc vào một tình trạng thấp kém hơn nữa. Gia đình Svastika ở vào hạng ngoại cấp, nghĩa là không thuộc vào giai cấp nào cả. Nhưng người như Svastika phải làm nhà ở một khu riêng biệt bên ngoài làng. Nghề nghiệp của họ chỉ là những nghề nghiệp thấp kém như đổ phân, đắp đường, nuôi heo, giữ trâu, cày ruộng. Ai sinh ra ở giai cấp nào thì phải chấp nhận hoàn cảnh của mình. Thần linh đã dạy như vậy và kinh điển cũng dạy như vậy.


Những người thuộc giới ngoại cấp như Svastika mà nếu lỡ lầm đụng phải một người thuộc giai cấp cao thì có thể bị trừng phạt nặng. Trong làng Uruvela đã có người bị đánh bầm tím thân thể vì đã lỡ tay đụng nhầm một người Bà la môn. Lỡ tay đụng phải một người Bà-la-môn hay một người Sát-đế-lợi, tức là làm ô nhiễm người ấy, và người ấy phải về ăn chay, nằm đất và sám hối nhiều tuần lễ mới được trong sạch trở lại.


Mỗi khi lùa trâu về chuồng, Svastika phải cẩn thận lắm. Nó không bao giờ dám tới gần một người nào trong cái xã hội cao quý, dù trên đường đi hay là trong sân nhà ông Rambhul. Nhiều lúc Svastika thấy con trâu còn có may mắn hơn mình.


Một người Bà la môn có thể đụng tới con trâu mà không bị ô uế, nhưng nếu người ấy đụng nhầm Svastika là ông ta phải về sám hối cả hai ba tuần lễ. Dù mình không đụng người ta mà người ta đụng nhầm mình thì mình cũng có thể bị đánh đập tàn nhẫn.


Hiện đứng trước Svastika là một người thật dễ thương nhưng theo kiểu cách của người đó thì chắc chắn ông ta không phải là người cùng đẳng cấp với Svastika rồi. Nụ cười ông ấy hiền hậu như thế và cái nhìn của người ấy bao dung như thế thì chắc hẳn người ấy sẽ chẳng nở đánh đập Svastika đâu, dù Svastika có lỡ đụng nhầm. Nhưng Svastika nghĩ rằng nếu lỡ đụng nhầm người ấy thì sẽ làm người ấy ô nhiễm, tội nghiệp. Cho nên nó vội ngừng lại khi khoảng cách giữa hai người chỉ còn ba bước. Thấy Svastika không bước tới, người ấy lại bước gần Svastika. Svastika tự khắc lui một bước, để tránh sự đụng chạm. Nhưng người ấy nhanh nhẹn lắm. Chỉ trong một chớp mắt ông ta đã tóm được Svastika. Tay trái người ấy ôm ngang vai Svastika còn tay phải người ấy xoa lên đầu nó. Svastika đứng yên, ngoài má nó, chưa có ai xoa đầu nó một cách âu yếm như thế bao giờ. Tuy nhiên nó vẫn còn sợ.


– Em đừng sợ. Người ấy nói, giọng nhỏ nhẹ và thân mật.


Svastika rất yên tâm khi nghe người ấy nói. Nó ngửng đầu lên thì lại gặp cái nhìn bao dung và nụ cười hiền hậu của người ấy. Ngập ngừng một lát nó nói:


– Chú dễ thương lắm.


Người ấy lấy tay nâng cằm nó lên và nhìn vào mắt nó:


– Em cũng dễ thương lắm. Nhà em ở gần đây phải không?


Svastika không trả lời. Nó nắm lấy bàn tay trái của người đó trong hai bàn tay của nó.


Nó hỏi cái câu hỏi đang nằm trong đầu nó:


– Con nắm tay chú như thế này thì chú bị ô nhiễm rồi phải không?
Người ấy cười và lắc đầu:


– Không đâu, em. Em là con người, tôi cũng là con người. Em không làm ô nhiễm tôi đâu. Đừng có nghe lời người ta nói.


Người ấy cầm tay Svastika đi ra phía cửa rừng.

Đàn trâu của Svastika còn đó. Gánh cỏ tươi của Svastika cũng còn đó.Người ấy nhìn Svastika hỏi:


– Em chăn những con trâu này phải không? Và đây là gánh cỏ mà em đã cắt cho trâu ăn, phải không? Em tên là gì? Nhà ở gần đây không?


Svastika lễ phép thưa:


– Dạ đây là trâu của con chăn. Bốn con này và con nghé này nữa. Đây là cỏ của con mới cắt. Con tên là Svastika. Nhà con bên kia sông, ở cuối làng Uruvela. Thưa chú, còn chú tên gì, và nhà chú ở đâu, chú nói cho con nghe được không?


Người ấy ôn tồn đáp:


– Được chứ. Chú tên là Siddhatta. Nhà chú ở xa lắm. Hiện giờ chú ở tạm trong rừng này.


– Chú là sa-môn, phải không?


Người ấy gật đầu. Svastika biết rằng sa-môn là những người tu, thường hay cư trú trong núi.


Hai người mới quen nhau, mới trao đổi với nhau có vài câu chuyện mà Svastika đã có cảm tưởng là mình đã rất thân với người bạn mới này.


Trong làng Uruvela, nó chưa thấy có ai đối xử với nó một cách thân ái như thế hay nói chuyện với nó một cách ôn tồn như thế. Nó cảm thấy một niềm hạnh phúc dâng lên trong lòng. Nó muốn bày tỏ nỗi hân hoan của nó. Nó nghĩ giá nó có một cái gì để làm quà tặng cho người này thì hay biết bao. Trong túi nó không có một đồng tiền, cũng không có một cục đường phèn, biết lấy gì làm quà tặng. Nhưng Svastika có can đảm nói ra những gì mình đang nghĩ.


– Thưa chú, con muốn tặng chú một món quà, nhưng con không có gì trong người con hết.


Siddhatta nhìn Svastika rồi mỉm cười nói:


– Có chứ, em có một thứ mà nếu em làm quà cho tôi thì tôi thích lắm.


Svastika ngơ ngác:


– Con có gì đâu?


Siddhatta chỉ gánh cỏ:


– Cỏ của em cắt cho trâu ăn mềm và thơm lắm. Nếu em cho tôi vài nắm để tôi trải dưới gốc cây làm nệm ngồi thì tôi sẽ sung sướng biết bao.
Mắt Svastika sáng lên. Nó chạy tới gánh cỏ, cúi xuống ôm lấy một ôm đầy trong hai vòng tay nhỏ. Rồi nó trở về dâng ôm cỏ cho Siddhatta:


– Cỏ Kusa này con mới cắt bên bờ sông. Con xin biếu chú. Lát nữa con sẽ ra bờ sông cắt thêm cho đầy gánh.


Siddhatta chắp tay cung kính nhận bó cỏ từ tay em bé. Ông nói:


– Em rất dễ thương, tôi cảm ơn em. Thôi bây giờ em ra bờ sông cắt cỏ thêm cho đầy gánh đi, rồi về kẻo muộn. Chiều mai nếu có dịp em ghé vào rừng thăm tôi nhé.


Bé Svastika cúi đầu chào. Nó đứng đợi cho Siddhatta ôm bó cỏ đi khuất vào rừng rồi mới tới gỡ lưỡi liềm gài trên chiếc đòn xóc đặt nghiêng trên gánh cỏ và bước ra phía bờ sông.


Nó thấy ấm áp trong lòng. Trời đầu mùa Hạ, cỏ Kusa còn non và lưỡi liềm của Svastika còn sắt nên cắt rất ngọt. Chẳng mấy chốc mà Svastika đã cắt được đầy một ôm lớn.


Svastika lùa trâu về. Sông Neranjara có một khúc rất cạn gần đó, Svastika cho trâu lội qua khúc ấy. Con nghé con còn lưu luyến đám cỏ non bên bờ sông, Svastika phải tới lùa nó chạy theo đàn trâu. Gánh cỏ trên vai không có gì là nặng, Svastika lội qua sông cùng một lượt với bầy trâu.


Đăng bởi: vienlam | 31/01/2010

Đường xưa mây trắng – Chương 2

Thiền sư: THÍCH NHẤT HẠNH

(Bài tiếp theo sẽ được đăng  vào ngày thứ tư 03/02/2010)

Chương 2: Nghệ thuật chăn trâu


Hôm nay trời mát, sau bữa cơm trưa, ăn trong quán niệm, các vị khất sĩ lặng lẽ đi rửa bát của mình và đem trải tọa cụ ngoài trời ngồi quây quần quanh Bụt. Tu viện Trúc Lâm có rất nhiều sóc. Chúng quanh quẩn bên các thầy, không có vẻ gì sợ hãi. Nhiều con sóc leo lên trên các thân tre, đưa mắt nhìn xuống.


Svastika đưa mắt tìm Rahula. Chú thấy Rahula ngồi ngay trước mặt Bụt. Chú rón rén đến trải tọa cụ bên cạnh Rahula và nghiêm chỉnh ngồi xuống trong tư thế hoa sen. Không khí thật trang nghiêm. Không ai nói với ai lời nào, nhưng Svastika biết rằng ai cũng đang theo dõi hơi thở trong khi chờ đợi Bụt mở lời chỉ dạy.


Bụt ngồi trên một chiếc chõng tre, cao hơn mọi người chừng vai gang tay để mọi người có thể nhìn thấy. Người ngồi ung dung và uy nghiêm như một con sư tử chúa ngồi trong bầy sư tử. Người đưa mắt nhìn đại chúng một cách từ hòa. Rồi cái nhìn của người dừng lại nơi Svastika và Rahula. Bỗng nhiên, Bụt mỉm cười. Người cất tiếng:


– Hôm nay tôi muốn nói chuyện với đại chúng về việc chăn trâu, và thế nào là một em bé chăn trâu giỏi. Một em bé chăn trâu giỏi là một em bé có thể dễ dàng nhận ra được trâu của mình, biết hình tướng của mỗi con, biết cách cọ xát tắm rửa cho trâu, biết thương yêu trâu, biết tìm bến tốt để cho trâu qua sông, biết tìm chỗ có cỏ non và nước uống cho trâu, biết bảo trì những vùng thả trâu và cuối cùng là biết để cho những con trâu lớn làm gương cho nhưng con trâu nhỏ.


Ngưng một lát Bụt tiếp :


– Này các vị khất sĩ! Một vị khất sĩ giỏi cũng phải làm tương tự như một em bé chăn trâu. Nếu em bé chăn trâu biết nhận ra được trâu của mình, thì người xuất gia cũng phải biết nhận ra được những yếu tố tạo nên sắc thân của mình. Nếu em bé chăn trâu biết được hình tướng của mỗi con trâu trong đàn trâu của mình, thì nguời xuất gia cũng phải thấy được những hành động nào của thân, của miệng, và của ý là những hành động đáng làm, và những hành động nào là những hành động không đáng làm. Nếu một em bé chăn trâu biết cách cọ xát tắm rửa cho trâu, thì người xuất gia cũng phải biết buông xả và gột rửa khỏi thân tâm những tham dục, si mê và hờn oán…


Trong khi Bụt nói những lời trên, mắt Bụt không rời Svastika, Svastika có cảm tưởng rằng chú là nguồn cảm hứng cho những lời mà Bụt đang nói. Chú nhớ rằng ngày xưa chú đã được ngồi bên Bụt hàng giờ, và Bụt đã từng hỏi chuyện chú một cách tỉ mỉ về công việc chăn trâu và cắt cỏ. Vốn là một vị hoàng thái tử xuất thân, làm sao Bụt có thể hiểu rõ như thế về nghề chăn trâu, nếu chính chú đã không kể hết những chuyện đó cho người nghe?


Bụt vẫn nói. Tiếng nói người vừa rõ vừa trong.


Tuy người chỉ nói giọng bình thường, tiếng của người vẫn vọng ra rành mạch từng âm, không ai là không nghe thấy:


– Nếu em bé chăn trâu biết chăm sóc các vết thương của trâu, thì người xuất gia cũng phải biết hộ trì sáu căn của mình là mắt, tai, mũi, lưỡi thân và ý, và để cho sáu đối tượng, tức là sáu trần không thể lung lạc được mình.


Nếu em bé chăn trâu biết cách đốt khói un trâu để trâu khỏi bị muỗi đốt, thì người xuất gia cũng phải đem đạo lý giải thoát để dạy cho người chung quanh, để họ tránh được những khổ đau dằn vặt trong thân tâm họ.

Nếu em bé chăn trâu biết tìm đường đi an toàn cho trâu, thì người xuất gia cũng phải biết tránh những con đường đưa tới danh lợi, sắc dục, quán rượu và hí trường. Nếu em bé chăn trâu biết thương yêu trâu, thì người xuất gia cũng phải biết quý trọng những niềm an vui do thiền tập đưa tới. Nếu em bé chăn trâu biết tìm bến tốt cho trâu qua sông, thì người xuất gia cũng phải biết nương vào diệu lý bốn sự thật để biết đến bến bờ. Nếu em bé chăn trâu biết tìm chỗ có cỏ non và nước uống cho trâu, thì người xuất gia cũng phải biết rằng bốn lãnh vực quán niệm là mảnh đất tốt nhất để làm phát sinh giải thoát. Nếu em bé chăn trâu biết bảo trì những vùng thả trâu, không tàn hại phá phách môi trường nuôi trâu, thì người xuất gia cũng phải cẩn thận và dè dặt trong việc tiếp xúc với quần chúng, và thu nhận của cúng dường. Nếu em bé chăn trâu biết dùng những con trâu lớn làm gương cho những con trâu con, thì người xuất gia cũng phải biết nương vào đức hạnh và kinh nghiệm của các bậc thầy đi trước… Một vị khất sĩ biết làm đúng theo mười một điều vừa nói, thì có thể đạt đến quả vị La hán trong vòng sáu năm tu học.


Vị khất sĩ trẻ tuổi Svastika lấy làm kỳ lạ. Những điều chú nói với Bụt cách đây mười năm, Bụt còn nhớ hết. Người đã nhắc lại tất cả những chi tiết, và còn đem áp dụng vào việc tu học của người khất sĩ. Tuy Bụt đang dạy giáo lý chung cho đại chúng, nhưng chú có cảm tưởng là Bụt đang dạy riêng cho một mình chú. Chú nhìn đăm đăm vào mặt Bụt, hai mắt không rời khỏi người.


Những lời Bụt dạy thật hàm súc. Những danh từ như “sáu căn”, “sáu trần”, “bốn sự thật”, và “bốn lãnh vực quán niệm”… mà Bụt đã xử dụng trong bài pháp thoại, Svastika chưa hiểu được tường tận. Chú tự bảo là sẽ nhờ chú Rahula giảng giải cho. Nhưng chú có cảm tưởng là dù sao chú cũng hiểu được khái quát những lời Bụt dạy. Chú sẽ ôn lại những điều học hôm nay với chú Rahula. Nhưng Bụt đã lại lên tiếng, Người giải thích thêm về việc chọn con đường an toàn cho trâu đi. Nếu con đường có quá nhiều gai góc, trâu có thể sẽ bị thương, và những vết thương có thể làm độc. Nếu em bé chăn trâu không biết cách trị thương cho trâu thì trâu có thể lên cơn sốt và lăn ra chết. Sự tu học cũng giống như thế. Không tìm chánh đạo mà đi thì sẽ bị mang thương tích trong thân thể và tâm hồn. Những vết thương do các độc tố tham sân si làm cho ung thối sẽ có thể làm hư hỏng cả sự nghiệp giác ngộ.


Bụt ngừng nói. người ra dấu cho Svastika lại gần người. Svastika vâng lời, đến đứng chấp tay búp sen bên Bụt. Bụt tươi cười giới thiệu chú với đại chúng. Người nói:


– Mười năm trước, tôi đã được gặp chú Svastika tại rừng Gaya, trước ngày thành đạo. Chính chú Svastika đã cho tôi những nắm cỏ Kusa để trải làm tọa cụ mà ngồi dưới gốc cây Bồ Đề. Hồi đó chú mới mười một tuổi. Những điều mà tôi biết về nghệ thuật chăn trâu là do chú dạy tôi hồi đó. Tôi biết Svastika là một em bé chăn trâu giỏi. Và tôi tin tưởng rằng vị khất sĩ Svastika hôm nay cũng sẽ là một vị khất sĩ giỏi trong ngày mai.


Mọi con mắt đổ dồn về phía Svastika. Chú biết là hai tai và hai má chú đang đỏ bừng.


Mọi người cháp tay búp sen để chào chú. Chú cúi đầu chắp tay đáp lễ.


Bụt kết thúc buổi pháp thoại bằng cách yêu cầu chú Rahula lặp lại những phép quán niệm hơi thở. Chú Rahula đứng dậy chắp tay. Chú đọc rành mạch từng phép. Giọng chú sang sảng như tiếng chuông đồng. Đọc xong, chú lại chắp tay cung kính xá đại chúng. Bụt đứng dậy. Người trở về am tranh. Đại chúng giải tán. Mọi người thu xếp tọa cụ và trở về vị trí mình. Tại tu viện Trúc Lâm không phải ai cũng cư trú trong các tịnh xá. Có nhiều vị khất sĩ ngồi thiền và ngủ ngay dưới các bụi tre. Chỉ khi nào trời mưa các vị mới xếp tọa cụ và tìm vào ẩn mưa ở các tăng xá hoặc ở giảng đường.


Svastika được thầy Sariputta cho phép ở chung một liêu với chú Rahula. Năm nay chú Rahula đã chững chạc rồi nên không còn phải ngủ chung một liêu với thầy y chỉ sư như những năm còn bé. Svastika rất sung sướng được thân cận với Rahula. Chú thầm cảm ơn vị y chỉ sư. Thầy Sariputta hiểu chú không kém gì Bụt. Hèn gì ai cũng nói thầy là học trò lớn của người.


Chiều nay sau giờ thiền tọa, Svastika tập đi kinh hành một mình. Chú chọn một con đường vắng trong tu viện để khỏi phải gặp nhiều người. Trong lúc kinh hành, chú không được nhất tâm cho lắm, bởi vì chú đã bắt đầu cảm thấy nhớ nhà và nhớ các em. Hình bóng con đường làng dẫn ra bờ sông hiện rõ trong trí. Hình bóng của bé Bhima đang cúi mặt xuống gần như khóc. Hình bóng của thằng Rupak một mình chăm sóc đàn trâu đông đảo của ông Rambhul. Chú cố xua đuổi những hình ảnh ấy đi để chú tâm vào bước chân và hơi thở, nhưng thỉnh thoảng các hình bóng ấy lại lảng vảng về.


Chú hơi giận chú là đã không hết lòng tu học đã không xứng đáng với lòng tin cậy của Bụt. Chú định bụng sau giờ thiền hành sẽ đi tìm chú Rahula để hỏi thêm về phương pháp nhiếp tâm. Với lại còn có mấy điều Bụt dạy hồi trưa mà chú ghi nhận chưa được kỹ càng. Rahula chắc chắn là có thể giúp chú. Nghĩ đến Rahula, chú thấy vững tâm hơn và tự nhiên tâm trí chú trở nên định tĩnh. Giờ đây chú có thể tập trung được tâm ý vào hơi thở và bước chân một cách dễ dàng hơn trong việc thực tập thiền hành.


Svastika chưa kịp đi tìm Rahula thì Rahula đã tìm đến chú, Rahula kéo chú ngồi xuống bên một gốc tre.


– Hồi xế trưa tôi có gặp thầy Ananda. Thầy đã được nghe Bụt giới thiệu về chú và thầy muốn gặp chú để được nghe chú kể chuyện ngày xưa, hồi chú còn bé và chú đã được gặp Bụt như thế nào.


– Thầy Ananda là ai vậy hả chú?


– Thầy là một vị vương tử dòng học Sakya, và là em chú bác của Bụt. Thầy xuất gia bảy năm nay. Thầy học giỏi lắm và rất được Bụt thương. Thầy thường để tâm săn sóc đến sức khỏe của Bụt, thầy mời anh em mình chiều mai đến thảo am của thầy đàm đạo. Tôi cũng rất muốn được nghe chú kể chuyện Bụt hồi người còn tu ở rừng Gaya.


– Thế Bụt chưa kể cho chú nghe sao?


– Có chứ, nhưng người chỉ kể sơ lược thôi. Tôi tin chắc là chú có rất nhiều chuyện hay để kể lại.


– Chuyện thì cũng không có gì nhiều đâu, nhưng nhớ được điều gì tôi sẽ kể lại điều ấy. Này chú, thầy Ananda có dễ thương không? Tôi ngại quá.


– Dễ thương lắm, và hiền lắm. Tôi đã có nói sơ lược về chú và về gia đình chú cho thầy ấy nghe, thầy ấy tỏ vẻ ưa thích lắm. Thôi nhé, chúng ta sẽ gặp lại nhau ngày mai vào giờ đi khất thực. Tôi sẽ đi giặt y cho kịp khô.
Rahula đứng dậy, Svastika kéo áo bạn:


– Chú ngồi chơi thêm chút nữa, tôi có mấy điều muốn hỏi chú. Hồi sáng Bụt dạy rất rõ về mười một điều mà một vị khất sĩ cần phải làm theo. Tôi đã không ghi nhớ hết mười một điều. Vậy nhờ chú chỉ bảo lại tôi.


– Hồi chiều tôi cũng có nhẩm lại mười một điều ấy nhưng tôi cũng chỉ nhớ được có chín điều. Thôi thế này nhé, ngày mai gặp thầy Ananda chúng ta sẽ nhờ thầy nhắc lại.


– Có chắc thầy Ananda nhớ được hết không?


– Chắc chứ! Ai chứ thầy Ananda thì một trăm mười một điều thầy cũng nhớ được chứ đừng nói mười một điều. Chú mới tới thành ra không biết thầy Ananda đấy thôi. Thầy có một trí nhớ kinh khiếp lắm; ở đây không có người nào là không phục. Những điều Bụt nói, thầy ấy có thể trùng tuyên lại vanh vách không sót một chi tiết nào. Ai cũng xưng tụng thầy là “đệ nhất đa văn” đấy. Hễ ai quên một điều gì Bụt đã dạy thì người ấy lại tìm đến thầy Ananda. Ở đây lâu lâu đại chúng lại tổ chức một buổi học ôn lại và mời thầy trùng tuyên lại những bài dạy căn bản của Bụt.


– Vậy thì chúng ta may mắn quá. Chúng ta đời đến chiều mai vậy. À mà quên, tôi lại định hỏi chú: làm thế nào để nhiếp tâm trong khi đi kinh hành?


– Chú muốn nói là khi đi kinh hành chú cứ nghĩ đến những chuyện khác phải không? Hẳn là chú nhớ tới các em chú ở nhà?


Svastika nắm tay bạn:


– Sao chú thông minh quá! Quả thật tôi có nghĩ đến các em ở nhà. Chiều hôm nay sao tôi thấy nhớ nhà thế. Tôi rất hối hận đã không nhất tâm với việc tu học. Tôi cảm thấy xấu hổ với Bụt và với chú lắm.


Rahula cười:


– Chú đừng cảm thấy xấu hổ. Hồi tôi mới đi theo Bụt tôi cũng nhớ mẹ, ông nội và bà dì của tôi lắm. Có nhiều đêm tôi nằm úp mặt vào vách mà khóc một mình. Tôi biết mẹ tôi, ông nội và bà dì tôi cũng nhớ tôi lắm. Nhưng mà lâu ngày thì quen đi.


Rahula kéo Svastika đứng dậy. Chú ôm ngang hông Svastika một cách thân ái:


– Các em chú dễ thương lắm. Chú nhớ nhà là phải. Nhưng rồi chú cũng sẽ quen đi như tôi. Ở đây chúng ta có nhiều chuyện phải làm lắm. Phải tu và phải học. Có dịp tôi sẽ kể chuyện mẹ tôi, ông nội tôi và bà dì cho chú nghe. Chú có muốn nghe không?


Svastika nắm chặt bàn tay của Rahula trong hai tay mình. Chú gật đầu.


Hai bạn chia tay. Rahula đi giặc y.


Svastika đi tìm chổi quét lá tre xung quanh các tịnh xá và gom lá tre lại thành từng đống.

Đăng bởi: vienlam | 27/01/2010

Đường xưa mây trắng – Chương 1

Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH

(Bài tiếp theo sẽ được đăng  vào ngày chủ nhật 31/01/2010)


Lời mở đầu

Tác giả kể chuyện xoay quanh việc viết tác phẩm “Đường xưa mây trắng”


Năm đầu khi mở cửa Làng Mai vào mùa hè, tôi thường hay cư trú trên phòng của cư xá Hồ Đào gần với cây Tilleul. Ở dưới có quán sách và ở trên là phòng tôi ở. Vào năm đầu và năm thứ hai chúng ta có ít phòng lắm nên tôi đã ngủ chung với mấy thiếu nhi. Bốn năm đứa trẻ ngủ chung với tôi và ban đêm các cháu đã nằm lăn ra khắp nơi. Bài hát “Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời…” tôi có chủ ý làm cho thiếu nhi hát. Tôi nghĩ là thiếu nhi phải hát chứ tụng thì chưa đủ. Hôm đó tôi ngồi thiền buổi chiều trong thiền đường Yên Tử. Trước mặt tôi có một tảng đá vì các bức tường của thiền đường Yên Tử đều được xây toàn bằng đá. Đang ngồi thiền thì thấy tự nhiên những nốt nhạc của bài “Con về nương tựa Bụt” đi ra. “Con về nương tựa Bụt, Namo Buddhaya”. Sau đó tôi sửa lại “Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời” rồi mới tới “namo Buddhaya”.

Tôi tự nghĩ: “Mình đang ngồi thiền chứ đâu phải đang sáng tác nhạc. Thôi để ngồi thiền xong rồi sẽ sáng tác tiếp.” Nhưng ngồi một lát nữa thì những nốt nhạc lại trở về. Tôi nghĩ: “Thôi, nếu đã như vậy thì mình sáng tác ngay lúc này.” Và trong khi ngồi thiền tôi tiếp tục sáng tác bài “Con về nương tựa Bụt”. Ngồi thiền xong thì tôi ra thâu bài hát vào băng nhựa vì sợ quên. Trong thời gian thiền sư Baker Roshi tới thăm Làng Mai, tôi đã khởi thảo tập sách Thiền Hành Yếu Chỉ . Rất nhiều người muốn có một tập sách hướng dẫn về thiền đi. Sau đó thì những bài thi kệ nhật dụng bằng tiếng Việt được sáng tác. Tôi còn nhớ là hồi đó tôi viết Đường Xưa Mây Trắng ở trong cái quán của Xóm Thượng. Hồi đó chưa có lò sưởi trung ương, trong phòng chỉ có một cái lò sưởi đốt củi thôi và trời rất lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của Đường Xưa Mây Trắng với rất nhiều hạnh phúc. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn. Và tôi biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết, mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc. Viết Đường Xưa Mây Trắng không phải là một lao động mệt nhọc mà là cả một niềm vui lớn. Đó là một quá trình khám phá. Có những đoạn tôi cho là khó viết, như đoạn Bụt độ ba anh em ông Ca Diếp. Tài liệu thường nói là Bụt độ ba anh em đó nhờ thần thông của Ngài nhưng khi viết thì tôi đã không để cho Bụt dùng thần thông mà cứ để Bụt sử dụng từ bi và trí tuệ của Ngài để độ ba ông ấy. Bụt có rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại phải dùng thần thông? Và tôi có một niềm tin rất vững chãi là mình sẽ viết được chương đó. Chương này là một trong những chương khó nhất của Đường Xưa Mây Trắng nhưng cuối cùng tôi đã thành công. Cái chương khó thứ hai là chương nói về cuộc trở về của Bụt để thăm gia đình. Mình đã thành Phật rồi, mình đã thành bậc toàn giác rồi, nhưng về thăm gia đình mình vẫn còn là một đứa con của cha, của mẹ, vẫn là một người anh của em. Viết như thế nào để Bụt vẫn còn giữ lại được tính người của Ngài. Cũng nhờ niềm tin đó mà tôi thành công. Quý vị đọc lại, sẽ thấy Bụt về thăm nhà rất tự nhiên. Cách Ngài nắm tay vua cha đi từ ngoài vào, cách Ngài đối xử với em gái, cách Ngài đối xử với Yasodhara và Rahula, rất tự nhiên. Tôi có cảm tưởng là có chư tổ gia hộ nên tôi mới viết như vậy được. Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta khám phá ra Bụt là một con người chứ không phải là một vị thần linh. Đó là chủ tâm của tác giả, giúp cho người ta khám phá lại Bụt như một con người và lột ra hết các vòng hào quang thần dị người ta đã choàng lên cho Bụt. Không thấy Bụt như một con người thì người ta sẽ tới với Bụt rất khó.

Thích Nhất Hạnh.


Chương 1: ĐI ĐỂ MÀ ĐI


Trong bóng me im mát vị khất sĩ Svastika đang thực tập phép quán niệm hơi thở. Chú ngồi trong tư thế hoa sen. Từ hơn một tiếng đồng hồ, chú đã ngồi thực tập như thế một cách chăm chú. Đó đây trong tu viện Trúc Lâm, hàng trăm vị khất sĩ cũng đang ngồi thực tập thiền quán, hoặc trong bóng tre, hoặc trong những chiếc am lá nhỏ dựng rải rác khắp nơi trong tu viện, xen lẫn giữa những bụi tre xanh tươi và khỏe mạnh.


Bụt hiện đang cư trú trong tu viện này cùng với khoảng gần bốn trăm vị khất sĩ, học trò của Người. Tu viện đông như thế mà vẫn thanh tịnh. Đất của tu viện rộng đến bốn chục mẫu. Những giống tre trồng ở tu viện đều là những giống tre đẹp khỏe, lấy từ khắp nơi trong vương quốc Magadha. Tu viện tọa lạc ở phía bắc thành Vương Xá. Tu viện này do chính vua Bimbisara hiến tặng cho Bụt, và cho giáo đoàn khất sĩ của Người cách đây bảy năm.


Svastika mở mắt. Chú mỉm cười. Hai bắp chân chú đã mỏi. Chú tháo chân ra khỏi tư thế hoa sen và bắt đầu xoa bóp cho máu chạy đều trong hai chân. Svastika năm nay mới hai mươi mốt tuổi. Chú chỉ mới được xuống tóc và thọ giới khất sĩ cách đây ba hôm. Thầy Sariputta, một trong những vi cao đệ của Bụt đã làm lễ truyền giới cho chú.


Svastika quê ở Uruvela gần Gaya, chú được làm quen với Bụt ngay từ hồi Bụt chưa thành đạo, cách đây đúng mười năm. Hồi đó chú mới mười một tuổi.


Bụt thương chú lắm, cách đây nửa tháng, Bụt ghé lại làng Uruvela tìm chú. Bụt đưa chú về đây, và Bụt đã bảo thầy Sariputta truyền giới khất sĩ cho chú. Được chấp nhận vào giáo đoàn của Bụt, Svastika sung sướng lắm.


Chú nghe nói trong giáo đoàn của Người có rất nhiều vị khất sĩ xuất thân từ giới quyền quý, như thầy Nanda. Thầy Nanda cũng là hoàng thái tử, em ruột của Bụt. Lại có những vị hoàng thân khác như Bhaddiya, Devadatta, Anuruddha và Ananda. Chú chưa đựơc trực tiếp chắp tay chào hỏi các vị nầy, tuy chú đã được trông thấy họ.


Các vị này tuy đã đi tu, tuy đã khoác những chiếc áo cà sa bạc màu trên người nhưng dáng điệu vẫn còn mang tính cách thanh lịch và quý phái. Svastika có cảm tưởng là còn lâu lắm chú mới làm quen thân được với các vị.


Bụt là một vị hoàng tử con vua thật đấy, nhưng Svastika không còn tìm thấy được sự ngăn cách nào giữa Người và chú.


Có lẽ vì chú quen với Bụt lâu rồi và ngày xưa đã từng ngồi với Bụt hàng giờ hoặc trên bờ sông Neranjara hoặc dưới cội bồ đề im mát. Chú thuộc về hạng những người cùng đinh, những người thấp kém và nghèo khổ nhất ở xứ chú.


Chú đã làm nghề giữ trâu trên mười năm nay.


Trong vòng nửa tháng vừa qua, chú đã chung đụng với những người tu thuộc giai cấp quý tộc. Những người này đều là khất sĩ và là học trò của Bụt. Tuy họ rất tử tế với chú, tuy họ đã nhìn chú với con mắt có cảm tình và nhiều khi đã mỉm cười với chú, nhưng chú vẫn chưa cảm thấy thật sự thỏai mái với họ. Chắc là tại chú chưa quen. Có lẽ phải sống với họ trong nhiều tháng nữa chú mới thực sự cảm thấy đây là thế giới của chú.


Nghĩ tới đây, Svastika lại mỉm cười. Ở đây ngoài Bụt ra, chú còn cảm thấy thoải mới với một người khác nữa. Đó là chú Rahula, con trai Bụt, Rahula năm nay mười tám tuổi, Rahula được theo Bụt tám năm rồi và trên đường tu học, Rahula đã bước được những bước thật dài. Hiện Rahula là bạn thân nhất của chú. Chính Rahula đã chỉ cho chú phương pháp quán niệm hơi thở. Rahula giỏi giáo lý và hành trì hơn chú nhiều nhưng sỡ dĩ Rahula chưa được thọ giới khất sĩ vì tuổi Rahula chưa đến hai mươi.


Muốn được thành khất sĩ, muốn được thọ giới bhikkhu, nghĩa là giới khất sĩ thì ít nhất phải là hai mươi tuổi.


Tháng trước khi Bụt ghé vào làng Uruvela tìm Svastika thì gặp lúc Svastika không có ở nhà, chú đang chăn trâu ngoài ruộng với đứa em trai tên là Rupka. Chỉ có hai đứa em gái của chú là ở nhà.


Bala là chị Rupka năm nay lên mười sáu, còm Bhima là đứa em gái út năm nay mười hai tuổi.
Bla nhận ra ngay được Bụt. Nó đòi ra bờ sông tìm anh, nhưng Bụt nói là để Bụt tự ý đi tìm. Rồi người rủ Rahula cùng đi.


Hôm ấy đi với Bụt còn có hai mươi mấy vị khất sĩ nữa. Ai cũng theo Bụt đi ra bờ sông. Quả nhiên khi ra tới bờ sông thì Bụt gặp Svastika. Lúc ấy trời đã chiều, và Svastika đang cùng Rupka tắm cho đàn trâu. Đàn trâu của Svastika chăn có tới tám con trâu lớn và một con nghé. Hai anh em Svastika cũng nhận ra Bụt ngay tức khắc.


Svastika cùng Rupka vội chạy đến chắp tay búp sen cúi đầu chào Bụt.


– Các con đã lớn quá, Bụt nhìn hai anh em và mỉm cười một cách thân ái.


Svastika đứng ngây người ngắm Bụt. Vẫn khuôn mặt trầm tĩnh và hai con mắt sáng ngời ngày xưa. Vẫn nụ cười bao dung và hiền hậu đó. Vẫn những lọn tóc nhỏ xoắn hình ốc trên đầu. Bụt khoác một chiếc y màu chàm, do nhiều miếng vải may kết lại. Người vẫn còn đi chân đất như thuở nào, Svastika đưa mắt nhìn các vị xuất gia đứng sau lưng Bụt. Chú nhận thấy vị nào cũng đi chân trần như Bụt. Vị nào cũng quấn y màu chàm. Chú để ý thì thấy y của Bụt dài hơn các vị thầy khác độ một tấc. Đứng gần Bụt là một thầy rất trẻ, trạc tuổi Svastika. Vị thầy này cứ nhìn chú mà mỉm cười hoài. Bụt xoa đầu Svastika và Rupak. Người bảo người đang trên đường về thành Vương Xá, tiện đường chiều nầy ghé lại thăm mấy anh em. Người bảo người sẽ đứng trên bờ sông, đợi hai anh em xuống tắm trâu cho xong rồi sẽ cùng về nhà.


Trên đường về làng Bụt giới thiệu chú Rahula với hai anh em. Chú Rahula là vị xuất gia trẻ tuổi nhất hồi nãy trên bờ sông cứ đứng nhìn hai anh em Svastika mà cười hoài. Rahula thua Svastika ba tuổi nhưng cũng đã cao bắng Svastika. Rahula chưa thọ giới khất sĩ, nhưng đã thọ giới xuất gia làm s’ramanera, nghĩa là một vị sa di. Trông chú không khác gì những vị khất sĩ khác. Rahula đi giữa hai anh em. Chú trao chiếc bát cho Rupak giữ, và chú đặt tay trên vai hai người một cách thân ái. Chú đã từng được nghe Bụt nói chuyện về gia đình Svastika rồi, và chú có rất nhiều cảm tình với gia đình này. Cũng vì vậy nên hai anh em Svastika cảm nhận ngay được thân tình mà Rahula bộc lộ.


Về tới nhà, Bụt hỏi Svastika có muốn theo học với Bụt và gia nhập giáo đoàn khất sĩ không. Đây là một điều mà Svastika mong ước từ lâu. Mười năm trước, Svastika đã từng tỏ lộ ước mơ ấy với Bụt. Ngày ấy Bụt cũng đã hứa là sau này sẽ thừa nhận chú làm học trò xuất gia. Và bây giờ đây Người đã trở lại. Người đã không quên lời hứa. Các em của Svastika đã lớn cả rồi. Rupak em trai của Svastika đã có đủ khôn ngoan để một mình chăm sóc bầy trâu. Em gái lớn của Svastika là Bala cũng có đủ sức để làm một người nội trợ rồi.


Bụt ngồi ngoài sân, trên một chiếc ghế đẩu nhỏ. Tất cả các vị khất sĩ đều đứng sau lưng người. Nhà của mấy anh em Svastika là một túp lều lụp xụp, vách đất, làm gì có đủ chỗ để mời tất cả mọi người vào. Rupak đi lùa trâu về nhà ông chủ trâu, cũng chưa về. Bala nói với Svastika:


– Anh cứ đi theo Bụt và các thầy đi. Tụi em ở nhà cũng đủ sức lo. Thằng Rupak nó mạnh lắm, mạnh hơn cả anh hồi xưa. Anh đi chăn trâu nuôi tụi em đã hơn mười năm rồi, không lý bây giờ tụi em không đủ sức để tự lo cho chính mình sao.


Ngồi bên lu nước, con Bhima ngửng lên nhìn chị, không nói năng gì, Svastika nhìn nó. Con bé năm nay đã lớn. Hồi Svastika mới được gặp Bụt. Bhima còn chưa đầy tuổi thôi nôi. Bala hồi đó mới sáu tuổi, đã phải vừa ẳm em vừa nấu cơm. Rupak hồi đó mới có ba tuổi, cả ngày vọc đất vọc cát chơi ngoài sân. Cha chúng vừa mất được sáu tháng thì mẹ chúng cũng bỏ chúng, ngay sau khi sanh em Bhima. Svastika mười một tuổi mà đã phải làm chủ gia đình. May mắn mà nó được chăn trâu cho gia đình ông Rambhul trong xóm. Nhờ chăn trâu giỏi cho nên nó kiếm đủ thức ăn mỗi ngày cho chính nó và cho các em. Nó còn kiếm được cách xin sữa trâu cho bé Bhima nữa.


Bhima có khuôn mặt xinh xinh. Thấy anh nhìn mình như có ý dọ hỏi, Bhima mỉm cười. Nó ngần ngừ một lát rồi nói, giọng nhỏ nhẹ:


– Anh đi với Bụt đi.


Nói xong Bhima quay mặt đi nơi khác, rơm rớm nước mắt. Bhima đã từng nghe anh nói về dự tính đi theo Bụt để tu học. Nó muốn anh nó được đi, nhưng nó lại buồn khi biết anh nó sắp đi.


Vừa lúc ấy, Rupak về tới. Rupak nghe được câu nói của em. Nó hiểu tất cả. Nó nhìn Svastika, và nói:


– Anh cứ đi với Bụt đi.


Mọi người im lặng, Rupka nhìn Bụt nói:


– Bụt cho anh con được đi học với Bụt . Con ở nhà đủ sức lo cho chị và cho em con rồi.


Và quay sang Svastika, Rupak nháy mắt:


– Nhưng thỉnh thoảng anh phải xin phép Bụt về thăm tụi em.


Thế là vấn đề của Svastika được giải quyết. Bụt đứng dậy xoa đầu Bhima và nói:


– Các con đi ăn cơm và chuẩn bị đi nhé. Sáng mai, ta sẽ trở lại đây đón Svastika cùng lên đường đi Rajagaha. Bây giờ ta và các thầy khất sĩ sẽ đi về cây Bồ Đề và sẽ nghỉ đêm trong ấy.


Ra tới cổng, Bụt quay lại. Người nhìn Svastika và nói:


– Ngày mai, con không cần đem theo gì hết. Chỉ cần áo mặc trên người thôi, con nhé.


Đêm đó, bốn anh em thức khuya. Svastika dặn dò các em đủ điều. Svastika ôm từng đứa em trong vòng tay, thật lâu. Bé Bhima khóc thút thít trong tay anh. Nhưng bé lại ngửng lên nhìn anh và mỉm cười. Nó không muốn anh nó buồn. Ánh sáng chiếc đền dầu tuy tù mù nhưng vẫn soi rõ được nụ cười của bé. Tối hôm đó không ai nghĩ đến chuyện ăn cơm tối cả, dù Bala đã nấu cơm sẵn cho bốn anh em từ hồi xế chiều.


Sáng tinh sương hôm sau, khi Svastika vừa dậy thì đã thấy chị Sujata đến thăm. Chị đến để chào từ giã Svastika, bởi chiều hôm qua trên đường bờ sông chị đã được gặp Bụt và đã được Bụt báo tin cho biết là Svastika sẽ lên đường theo Bụt Chị Sujata là con gái của ông hương cả. Chị lớn hơn Svastika hai tuổi, ngày xưa, chị cũng đã được gặp Bụt hồi người chưa thành đạo, và chị cũng từng giúp mấy anh em Svastika nhiều lần trong những cơn ốm đau hoạn nạn.


Sujata đem đến tặng Svastika một lọ dầu, nói là để đánh gió những khi bị nhức đầu. Hai chị em mới nói được vài ba câu chuyện thì Bụt và các thầy tới. Các em của Svastika cũng đã dậy và sửa soạn để tiễn đưa anh.


Chú Rahula đến ân cần hỏi thăm từng đứa em của Svastika. Chú hứa trong tương lai nếu có dịp đi ngang qua vùng Gaya thế nào chú cũng sẽ ghé thăm mấy đứa. Chị Sujata và ba đứa em của Svastika đưa Bụt và đoàn khất sĩ ra tới bờ sông. Đoàn người theo con đường ven sông để đi về phía Đông Bắc. Bốn chị em chắp tay chào Bụt, chào các thầy, chào chú Rahula và chào Svastika. Svastika thấy lòng nao nao. Đây là lần đầu tiên chú Svastika rời bỏ quê hương. Nghe nói phải đi đến mười hôm mới tới được thành Rajagaha. Bụt và các thầy khất sĩ đi thật khoan thai. Đi như thế này thì lâu đến là phải. Nhưng Svastika cũn chậm bước lại. Bước chân Svastika cũng trở nên khoan thai. Lòng Svastika bây giờ bình yên hơn. Svastika đã một lòng quay về nương tựa Bụt, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng. Svastika đã có đường đi của mình.


Chú quay lại nhìn một lần chót. Bóng của chị Sujata và các em đã khuất sau rừng cây.


Svastika có cảm tưởng là Bụt đi để mà đi chứ không phải đi để mà tới. Đoàn khất sĩ đi theo nguời cũng vậy. Không ai tỏ vẻ nóng ruột hoặc hấp tấp muốn cho chóng tới Rajagaha. Mọi người bước những bước vững chắc, chậm rãi và thanh thản. Đi như là đi chơi. Không ai tỏ vẻ mỏi mệt. Vậy mà mỗi ngày đoàn người đi được rất xa. Cứ vào khoảng mười giờ sáng thì đoàn khất sĩ lại ghé vào một thôn xóm bên đường để khất thực. Họ đi thành một hàng. Bụt đi đầu, tay phải Người nâng bình bát, Svastika đi chót, ngay sau chú Rahula. Đoàn người trang nghiêm vừa đi vừa theo dõi hơi thở, mắt nhìn phía trước. Thỉnh thoảng đoàn người dừng lại. Có người trong xóm đem thức ăn ra cúng dường. Họ đứng nghiêng mình đổ thức ăn vào trong bình bát của các vị khất sĩ. Có người quỳ xuống bên đường để dâng cúng thức ăn. Các vị khất sĩ sau khi nhận thức ăn thầm lặng hộ niệm cho người thí chủ.


Đoàn khất sĩ sau khi khất thực, từ từ đi ra khỏi thôn xóm và tìm tới dưới một khu rừng hay dưới một bãi cỏ. Họ ngồi xuống thành vòng tròn và chia xẻ thức ăn đã xin được cho những chiếc bình bát chưa có gì. Chú Rahula từ bờ sông đi lên mang theo một bình nước đầy. Chú cung kính mang bình nước tới trước mặt Bụt. Bụt chắp tai lại thành một búp sen. Chú đổ nước trên tay Bụt để Bụt rửa tay. Rồi chú đến trước các vị khất sĩ, cung kính đổ nước trên tay từng vị. Sau cùng chú đến đổ nước cho Svastika rửa tay. Sau đó mọi người chắp tay lại để quán niệm và chú nguyện. Rồi mọi người nâng bát lên ăn. Bữa ăn trang nghiêm và im lặng. Svastika chưa có bát. Chú Rahula đã chia thức ăn cho Svastika trên một tàu là chuối tươi.


Thọ trai xong, đoàn khất sĩ tìm nơi nghỉ trưa. Có vị tiếp tục đi thiền hành. Có vị ngồi thiền tọa dưới gốc cây. Khi nắng bắt đầu dịu xuống, mọi người lại lên đường. Đoàn người đi chó đến khi bóng chiều ngã thì mới tìm nơi tá túc. Chỗ nghỉ đêm tốt nhất của họ là một khu rừng thưa. Mọi người đều có mang theo tọa cụ. Họ ngồi xếp bằng trong tư thế hoa sen để thiền tọa dưới một gốc cây. Có vị thiền tọa đến quá nửa đêm mới ngả lưng xuống nghỉ trên áo cà sa xếp tư của mình. Các vị khất sĩ thường mang theo mình một chiếc y khác. Họ dùng y này để đắp khi trời trở lạnh. Svastika cũng bắt chước mọi người thiền tọa, và chú cũng học cách ngả lưng ngủ dưới một gốc cây, đầu chú gối trên một chiếc rễ cây.


Buổi sáng thức dậy, Svastika thấy Bụt đã dậy từ hồi nào và đang an nhiên ngồi tĩnh tọa. Dáng điệu của người trầm tĩnh và an lạc lạ thường. Nhìn quanh, Svastika thấy nhiều vị khất sĩ cũng đã dậy và đang thực tập thiền quán. Khi trời đã sáng rõ, mọi người lại xếp y, cầm bát và chuẩn bị lên đường.


Ngày đi đêm nghỉ, như thế được mười hôm thì đoàn người tới thủ đô Vương Xá. Đây là lần đầu tiên trong đời Svastika thấy nhà cửa phố xá đông đúc như vậy. Xe ngựa rộn rịp. Tiếng cười tiếng nói vang vang. Tuy nhiên, đoàn khất sĩ vẫn đi khoan thai, nghiêm chỉnh và tịnh lạc như đi trên một bờ sông hoặc một con đường giữa hai cánh đồng lúa nơi thôn dã. Nhiều khách bộ hành dừng lại để ngắm đoàn khất sĩ. Có người nhận ra được Bụt. Họ vội sụp xuống lạy một cách kính cẩn. Đoàn khất sĩ vẫn an nhiên đi. Rồi đoàn khất sĩ về tới tu viện Trúc Lâm.

Tin Bụt về tới Trúc Lâm phút chốc đã được truyền đi khắp tu viện. Chỉ trong chốc lát, gần bốn trăm vị khất sĩ cư trú tại Trúc Lâm đã tề tựu lại tịnh xá của người để thăm hỏi. Bụt không nói chuyện nhiều, người chỉ hỏi thăm mọi người về hiện trạng tu học và hành đạo tại Trúc Lâm và tại thành Vương Xá. Rồi người giao Svastika cho thầy Sariputta. Thầy Sariputta hiện là vị giáo thọ của chú Rahula. Thầy cũng là vị giám viện của tu viện Trúc Lâm. Hiện thầy đáng hướng dẫn việc tu học cho gần năm trăm vị khất sĩ tân học, nghĩa là những vị khất sĩ trẻ mới được xuất gia trong vòng vài ba năm. Người đứng đầu tu viện là đại đức Kondanna.


Chú Rahula có phận sự chỉ dẫn cho Svastika về thể thức sinh hoạt hàng ngày trong tu viện: cách đi, cách ngồi, cách đứng, cách chào hỏi, cách thiền hành, cách thiền tọa, và cách quán niệm hơi thở. Rahula cũng chỉ cho Svastika cách khoác y, mang bát, cách khất thực, chú nguyện rửa bát.


Nội trong ba hôm, Svastika theo sát chú Rahula để học tất cả những thứ đó. Rahula chỉ dẫn rất tận tình, nhưng Svastika biết rằng để có thể làm được những việc nầy một cách ung dung và tự nhiên như chú Rahula, chú phải thực tập trong nhiều năm. Cuối cùng thầy Xá Lợi Phất gọi Svastika vào thảo am riêng của thầy. Thầy bảo Svastika ngồi xuống trên một chiếc ghế thấp bên cạnh thầy và bắt đầu giảng cho Svastika về giới luật của người khất sĩ.


Khất sĩ là người từ bỏ đời sống gia đình, nương vào Bụt như người đưa đường chỉ lối cho mình trong cuộc đời, nương vào Pháp như con đường đưa tới sự thành tựu đạo nghiệp giải thoát, và nương vào Tăng như đoàn thể của những người cùng đi trên một con đường chí hướng. Người khất sĩ phải sống đời đạm bạc và khiêm nhường. Đi khất thực là để thực hiện tinh thần ấy mà cũng là để có cơ hội tiếp xúc với dân chúng và hướng dẫn moị người vào con đường của hiểu biết và của thương yêu mà Bụt chỉ dạy.


Mười năm về trước dưới cây Bồ Đề, Svastika và các bạn đã từng được nghe Bụt nói về đạo giải thoát như con đường của hiểu biết và thương yêu, nên bây giờ chú hiểu rất chóng những điều mà thầy Sariputta đang giảng dạy. Nét mặt của thầy nghiêm trang, nhưng hai mắt và nụ cười của thầy bộc lộ rất nhiều từ ái. Thầy nói sáng ngày mai Svastika sẽ được làm lễ thế phát xuất gia để được gia nhập vào giáo đoàn khất sĩ. Và thầy dạy cho Svastika học thuộc những câu nói và chú phải nói trong lễ thọ giới.


Trong lễ thọ giới của Svastika, chính thầy Sariputta, là giới sư, truyền giới. Chỉ có khoảng trên hai mươi vị khất sĩ tham dự. Bụt cũng đến tham dữ lễ truyền giới này. Rahula cũng có mặt. Svastika rất sung sướng. Thầy Sariputta làm lễ xuống tóc cho Svastika. Tay cầm dao cạo, thầy im lặng một lát để chú nguyện rồi đưa dao cạo một vài đường tóc trên đầu Svastika. Sau đó Rahula nhận trách nhiệm hoàn tất việc cạo đầu cho vị giới tử mới. Svastika được thầy Sariputta trao cho ba chiếc y, một chiếc bình bát và một dụng cụ lọc nước. Đã học cách quấn y với Rahula rồi nên chú mặc y vào người một cách tự nhiên và mau chóng. Chú sụp lạy trước Bụt và đoàn thể các vị khất sĩ để biểu lộ niềm quý kính và lòng biết ơn của chú.


Ngay sáng ngày hôm ấy Svastika được tập sự đi khất thực. Chú đã là một bhikkhu. Quấn y, mang bát, chú gia nhập vào đoàn của vị y chỉ sư của mình, tức là thầy Sariputta. Rahula là thị giả của thầy Sariputta nên cũng có trong đoàn của chú. Mấy trăm vị khất sĩ trong tu viện Trúc Lâm chia nhau thành nhiều đoàn, mỗi đoàn đi khất thực trong một con đường khác nhau của thành Vương Xá. Hôm ấy Bụt không đi trong đoàn của Svastika.


Vừa bước ra khỏi tu viện, Svastika thấy ngay rằng đi hóa trai là một phương thức hành đạo. Lập tức chú trở về theo dõi hơi thở. Chú bước từng bước đoan nghiêm, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước. Chú Rahula hiện đi ngay phía sau chú. Tuy Svastika có ý thức rằng mình là một vị khất sĩ thực thụ, chú cũng biết rất rõ là kinh nghiệm tu học của chú còn kém xa kinh nghiệm tu học của Rahula. Và chú thường nguyện nuôi dưỡng đức khiêm cung nơi chú.

Đăng bởi: vienlam | 25/01/2010

DỄ MÀ KHÓ

NHIÊN TỰ

Nguồn: Báo Giác Ngộ số 505


Ô Sào thiền sư là một cao tăng Trung Hoa vào đời Đường. Khi sanh sư, bà mẹ không ưng ý lắm nên đem bỏ con vào một chiếc tổ quạ trên cội đại thọ trước hiên chùa rồi lẩn mất. Sư ở chùa từ đó, và người ta gọi sư là thầy Ô Sào (Ô là quạ, Sào là tổ), tức là ông thầy có xuất xứ từ một chiếc tổ quạ. Tuổi ấu thơ và tráng niên của sư trôi qua bình thản trong bóng mát của tòng lâm cổ kính. Sư thường hành thiền trên quê hương của mình, tức là nơi chảng ba có đặt chiếc tổ quạ ngày xưa mà theo năm tháng, cội cây đã to và rộng đủ để sư đặt một chiếc tọa cụ trên ấy. Cho đến khi ngộ đạo và hành đạo, thiền sư vẫn không rời “quê mẹ”.

Một hôm, quan Thị lang Bạch Cư Dị, một thi hào lừng danh đương thời, đi dạo ngang cổng chùa, trông thấy nhà sư đang ngồi vắt vẻo trên cành cây. Vốn không ưa hạng người “lánh nợ đời” như thế, ông cau mày hỏi:

–       Bộ hết chỗ rồi hay sao mà thầy lựa chỗ hiểm nghèo như thế để ngồi?

Thiền sư bình thản đáp:

–       Chỗ của tôi xem ra còn vững vàng hơn chỗ của quan lớn đang ngồi nhiều.

Quan Thị lang nhìn lại chiếc kiệu của mình, ngạc nhiên hỏi:

–       Chỗ tôi đang ngồi có gì đáng ngại đâu?

–       Thưa, chỗ đại quan là dưới vua, trên các quan và trăm họ. Vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì mất lòng vua. Tính mạng của đại quan cùng thân quyến đều lệ thuộc và lòng yêu ghét của vua và sự tật đố tị hiềm của bạn bè. Một chiếc ghế được kê trên đầu lưỡi thiên hạ của làm sao bì với sự cứng chắc của cây cội này được. Có phải thế không, thưa đại quan?

Bạch Cư Dị nghe nhà sư nói chỉ im lặng cúi đầu, giây lâu vị đại quan lão thành mới cất tiếng hỏi:

–       Thầy có thể cho tôi biết thế nào là đại ý của Phật pháp chăng?

Thiền sư đáp liền:

–       Không gì dễ bằng câu hỏi này. Đại quan hãy nghe tôi trả lời đây: “Các điều ác chớ làm, các điều lành vâng giữ, tự thanh lọc ý mình, đó là lời Phật dạy”.

Bạch Cư Dị nghe xong bảo:

–       Những điều thầy vừa đáp, con nít lên ba cũng nói được.

Thiền sư mỉm cười:

–       Thưa đại quan, con nít lên ba nói được, nhưng ông lão sáu mươi chưa chắc đã làm xong. Ngày có thấy như thế không?

Bạch Cư Dị lại im lặng cúi đầu bái phục. Ông bắt đầu học đạo với sự dẫn dắt của Thiền sư Ô Sào từ đó.

(Kể theo Vô minh từ đâu ra)

Đăng bởi: vienlam | 21/01/2010

Ý niệm hạnh phúc

THÍCH ĐỒNG TÂM

Nguồn: Báo Giác Ngộ số 507

Từ một câu chuyện kể

Có một cuốn truyện cổ tích dành cho người lớn, The missing piece của Shel Silverstein, trong đó câu chuyện kể về một cái vòng bị mất đi một mảnh vỡ hình tam giác. Cái vòng muốn được trọn vẹn, không thiếu mẩu nhỏ nào nên lang thang tìm kiếm mảnh thất lạc. Nhưng bởi vì nó không hoàn hảo nên chỉ có thể lăn đi rất chậm. Nó chiêm ngưỡng những bông hoa trên đường. Nó tán gẫu với những con sâu. Nó tận hưởng ánh nắng mặt trời. Nó đã thấy rất nhiều những mảnh vỡ khác nhau nhưng không mảnh nào vừa với nó. Và nó để tất cả lại bên đường rồi tiếp tục cuộc tìm kiếm.

Rồi một ngày kia, chiếc vòng tìm thấy một mảnh vỡ rất vừa vặn. Thật là hạnh phúc! Giờ đây nó có thể toàn vẹn, không thiếu chút gì. Nó lắp lại cái mẩu đã mất và bắt đầu lăn. Bây giờ nó đã là một cái vòng thật hoàn hảo, nó có thể lăn rất nhanh, quá nhanh để có thể lưu ý tới những bông hoa và nói chuyện cùng lũ sâu. Và khi nó nhận ra thế giới đổi khác như thế nào khi lăn quá nhanh, nó dừng lại, vứt mảnh vỡ vừa tìm được lại bên đường và tiếp tục lăn đi chậm rãi…

Và một chuyện cổ tích khác

Ngày xửa ngày xưa… Vào một buổi chiều, trên một đại dương xanh, có hai con sóng ào ào tung tăng theo gió. Một con sóng nhỏ lao đi thì gặp một con sóng thật lớn, mãnh liệt và dữ dội lao vút qua. Con sóng lớn lăn qua làm tung tóe cả nước. Con sóng nhỏ thấy con sóng lớn thật uy vũ và kỳ vĩ quá! Nhìn lại mình thì nhỏ bé và yếu đuối làm sao. Nó thấy buồn lắm! Con sóng bé than thở và ước ao như con sóng to lớn kỳ vĩ ấy. Con sóng lớn hiểu chuyện đó mới nói với con sóng nhỏ: “Này sóng, em đừng có buồn! Tại sao em lại muốn được như anh chứ! Anh tuy có to lớn nhưng cũng giống như em thôi mà! Chúng ta đều có bản chất là nước mà! Nếu em biết em là nước thì em sẽ không còn thấy buồn, không còn cảm thấy mình nhỏ bé, cô đơn nữa đâu”.

Ngẫm nghĩ…

Chúng ta cũng vậy! Mỗi chúng ta không ai giống ai. Giống như những chiếc lá trên cùng một cây, mỗi chiếc lá sẽ khác nhau vì chúng sinh ra ở các nhánh cây khác nhau. Nhưng mỗi chiếc lá sinh ra từ một cây. Chúng là lá, bản chất là lá. Hoàn hảo hay không hoàn hảo vẫn còn trong ý niệm. Ý niệm phân biệt do chính chúng ta cảm thấy rồi kẹt trong ý niệm của mình. Đẹp/ xấu, giàu/ nghèo, thiện/ ác, hoàn hảo hay không vẫn còn trong tướng phân biệt đối đãi…

Hành trình đi tìm hạnh phúc

Thiết nghĩ chúng ta ai cũng có kho tàng hạnh phúc và yêu thương. Kho tàng yêu thương ấy tự thân trong mỗi chúng ta, chẳng cần nhọc nhằn lăn đi để tìm kiếm. Như chiếc vòng ban đầu, dù có khiếm khuyết nhưng nó vẫn có đầy hạnh phúc. Hạnh phúc vì nó bình yên. Bình yên ở đây là tự do trước những ràng buộc hơn thua, kiếm tìm một cái gì đó mà nó cho là hạnh phúc. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta có thói quen đi tìm kiếm những gì gọi là hạnh phúc bên ngoài. Ta nghĩ ta còn khiếm khuyết. Ta nghĩ ta chưa hoàn thiện. Chính cái ý niệm về hạnh phúc lại lôi kéo ta đi tìm kiếm, lang thang rồi mệt mỏi. Nếu chiếc vòng ấy biết dù nó có thế nào đi nữa thì nó vẫn hoàn toàn có khả năng hạnh phúc. Khi nó vượt qua được ý niệm hạnh phúc mà nó đã đặt ra! “There is no way to happiness. Happiness is the way” (tạm dịch: “Chẳng có con đường nào dẫn đến hạnh phúc. Hạnh phúc chính là con đường”). Ngay trong từng phút giây của hiện tại: hạnh phúc có mặt bây giờ và ở đây!

Đăng bởi: vienlam | 19/01/2010

Học làm người

BẠCH VÂN

Nguồn: Báo Giác Ngộ số 502


Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.

Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.

Thứ nhất, “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

Thứ hai, “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

Thứ ba, ” học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.

(Theo Đại sư Tinh Vân, Liên Hải dịch)

Đăng bởi: NT | 27/08/2009

Bến Đỗ Bình Yên

Viên Quý

Một mùa vu lan báo hiếu nữa sắp về. Hình ảnh Đức Mục Kiền Liên bát cơm dâng mẹ,cúng trai tăng giúp mẹ thoát khổ, tấm lòng thơm thảo vang rộng và ngân vang mãi đến ngàn đời sau. Tấm gương Đức Mục Kiền Liên in sâu trong mỗi trái tim cùa những người con, những Phật Từ. Đối với tôi, có lẽ hình ảnh Người sẽ là tấm gương, là người thầy của tôi.Ngày hôm nay, tôi xin gửi những tâm sự cùa mình , biết đâu sẽ làm ấm lòng những người con trong mùa vu lan.


Thư gửi ba má.

Ngày vu lan sắp dến, con xin gửi đến ba má ngàn vạn lời thương yêu, mong ba má luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc và bình an.
Ba, má con rất hạnh phúc và tự hào khi là con của ba má. Con thương ba má nhiều lắm. Những từ này chưa bao giờ con nói vói ba má, nhưng từ sâu thẳm trong trái tim con yêu ba má biết bao.con sẽ không tha thứ cho mình nếu con làm ba má phiền lòng vì con.

Ngược dòng thời gian. Con nhớ lắm ngày nào nhà mình khó khăn lắm. Ba theo người ta nhiễm những tật xấu, má phải một mình gánh những nặng nhọc của cuộc đời. Bốn đứa con đang còn ăn học phải làm sao đây? Đây là bài toán cuộc đời mà má phải tính. Chị Hai nghỉ học năm lớp 9, đi làm công nhân hi sinh để nuôi ba đứa em nhỏ. Má thương chị Hai lắm.Lòng má đau lắm. Má và chị Hai dựa vai nhau để cùng bước tiếp. Má làm đủ nghề, xoay đủ cách để giữ gìn mái ấm gia đình.

Có lẽ, con sẽ không bao giờ quên những cơn mưa tầm tã, cắt từng bó rau. Trời mưa to lắm, mà trời cũng đã tối.Con và má lạnh run giữa màn mưa, ướt đẫm. Má nhìn con và nói “thôi con tìm chỗ trú mưa đi trời mưa lạnh lắm”. Con có chổ trú rồi má ơi. Đó là chổ trú trong trái tim bình yên cùa người mẹ. Cùng chia sẽ ngọt bùi vói má. Có hạnh phúc nào hơn.

Nhớ lắm. Gánh rau nặng oằn trên dôi vai của má. Trên đường về là tiếng bước chân vội vã của má,tiếng đòn gánh ken két và tiếng ríu rít của con. Một hôm, con nói hay là con gánh thay cho má má nha. Má nói nặng lắm, con cứ bướng con gánh được mà. Con suýt té. Sao nó nặng quá, trên đoạn đường về, con cứ bặm môi mà không dám than. Về nhà xong. Đôi vai con đau nhức và tím bầm. Vậy mà má phải gánh từ ngày này sang ngày khác…

Ba hư lắm vì cứ làm mà khóc không à. Người ta hạnh phúc vì tết đến sum vầy bên gia đình. Thế mà ba lại không về nhà.ba nói” ba có lỗi lắm, ba làm cả gia đình khổ. Hãy xem như ba chưa từng tồn tại trên cuộc đời này”. Con chỉ biết cầm lấy cái áo ba mà khóc. Ước gì, ba có thể về bên con lúc này…Lời ước đã trở thành hiện thực, một bà tiên đã hiện ra…bà tiên với đôi tay chai sần,với ánh mắt nhìn nhân hậu và trái tim bao dung đã dang rộng vòng tay đón ba trở về với mái ấm gia đình.

Anh và chị vào đại học,ba thì vẫn chưa bỏ được những tật xấu. Má phải làm việc gấp đôi, gấp ba người khác. Từ sáng sớm đến tối mịt mới về. Bao nhiêu nỗi khổ má gánh hết. Má không bao giờ bỏ cuộc, luôn vươn lên. Làm việc thì mệt mỏi, nhưng má không bao giờ xao nhãng chuyện giáo dục. má dạy :“không làm phiền người khác, gặp người lớn phải lễ phép, ăn ở hiền lành, có trước có sau, đừng lợi dụng và làm hại người khác…”Con nhớ mãi má ơi.

Bao nhiêu đêm má đã khóc thầm, không cho tụi con thấy. Giờ đây con đã hiểu thì ra lòng thương yêu đã giúp má vượt qua tất cả, má hi sinh tất cả để mong tụi con ăn học thành tài,có nghề ổn định, có địa vị trong xã hội.
Giọt mồ hôi, giọt nước mắt của má…đã biến thành những điều kì diệu, hạt giống tốt đẹp má vun trồng giờ đã ra những quả ngọt. Ở hiền gặp lành. Giờ đây ba đã trở về. Ba chăm chỉ làm ăn và trở thành trụ cột gia đình. Con biết tận sâu thắm lòng ba ba thương má lắm. Chị Hai giờ đã có gia dình, anh chị đã ra trường và có việc làm ổn định.Con thì đã là một sinh viên. Nhìn cả nhà mình quây quần con hạnh phúc lắm. Bà tiên giữa đời thường, người giữ lửa của gia đình.

Mới gần đây má bệnh. Cà nhà lo sốt vó,anh chị thay phiên nhau chăm sóc má, ba thì buồn và ít nói hẳn ra.Bà tiên đã bệnh rồi. Không gian yên ắng lạ thường.Con vào bệnh viện và tíu tít kể cho má nghe như ngày nào. Má mệt mỏi lắm nhưng lại lắng nghe và mỉm cười nhìn con. Sao con vô tâm quá. Con nắm chặt tay má. Cảm giác ấm áp, hạnh phúc và bình an quá…

Có lẽ, lá thư này con sẽ giữ mãi trong trái tim mình.Bởi vì nói hay không bằng hay làm mà.Con sẽ biến tình yêu thành sức mạnh, để vượt qua tất cà những khó khăn, những trở ngại trên con đường tu tập và trong cuộc sống. Trên cuộc đời, mọi người có thể nói con là yếu đuối, là thất bại nhưng con sẽ không bao giờ bỏ cuộc vì có một ngọn lửa luôn sưởi ấm tâm hồn con, bến đổ bình yên, con yêu ba má.

Đăng bởi: NT | 26/08/2009

TƯỞNG TƯỢNG

MINH NIỆM
Nguồn: Báo Giác Ngộ 493
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Mũi tên thứ hai

Cuộc sống vô cùng phức tạp nhưng cũng thật giản đơn, có khi sự thật nằm sâu thẳm bên trong một vấn đề nhưng cũng có khi nó hiện sờ sờ trước mặt. Tức là có những vấn đề “thấy vậy chứ không phải vậy” nên ta phải nhìn xuyên thấu qua nhiều lớp thì mới hiểu được bản chất của nó, nhưng cũng có những vấn đề “thấy sao để vậy” nên ta chỉ cần dùng cảm nhận trực tiếp trên hiện tượng đang xảy ra là có thể biết được sự thật. Cho nên giữ chặt một nguyên tắc nào để nắm bắt cuộc sống là thái độ rất sai lầm. Thông minh và bản lĩnh là hai chiếc chìa khóa có thể mở được rất nhiều cánh cửa bí ẩn của cuộc sống.



Con người ngày nay càng đặt đời sống của mình ở bên ngoài, lúc nào cũng muốn chụp cái này bắt cái kia vì nghĩ rằng càng tàng trữ nhiều điều kiện tiện nghi là càng hạnh phúc, nên nội lực của con người ngày càng suy yếu. Vì kẹt vào sự mong cầu hay chống đối bên ngoài nên con người luôn trong tư thế phòng thủ như có kẻ thù đang rình rập, thế nên trí tưởng tượng đã can dự rất nhiều trong khi giải quyết vấn đề mà ta không cưỡng lại nổi. Tâm càng yếu đuối lo sợ thì trí tưởng tượng sẽ càng lớn mạnh. Tạo dựng sẵn một cảnh tượng có thể xảy ra để biết cách ứng phó một cách máy móc như thấy sợi dây trong đêm tối mà tưởng là con rắn thì đó là chứng bệnh tâm lý chứ không còn là bản năng tự vệ nữa.

Nhưng bản năng tự vệ cũng tùy thuộc vào hiểu biết của mỗi người. Đấu tranh bằng mọi cách để bảo vệ cảm xúc của mình trong nhất thời là một bản năng còn rất hoang sơ, không biết nhìn sâu vấn đề hay quan tâm đến cảm nhận của đối phương. Nhớ lại những lần ấy ta cũng đủ rùng mình vì sự tưởng tượng quá mức đến sai lầm nghiêm trọng của ta. Cũng như có một người bắn vào lưng ta một mũi tên, ta sẽ rất đau. Nhưng liền sau đó có một mũi tên khác bay tới cắm ngay vào vị trí của mũi tên thứ nhất, thì chắc chắn sự đau đớn sẽ tăng gấp bội chứ không phải gấp hai lần. Mũi tên thứ hai chính là trí tưởng tượng của ta. Ta nghi hết kẻ này tới kẻ khác đã bắn mũi tên ấy và vắt óc suy nghĩ tại sao lại ra tay như vậy mà không chịu lấy mũi tên ra và chữa lành vết thương trước.

Hoàn cảnh chỉ có thể làm ta đau nhưng trí tưởng tượng mới có thể giết ta chết. Ta hãy coi chừng mũi tên thứ hai, nó ở ngay trong ta và khả năng chế biến ra nó là cực nhanh. Khi ai đó buông ra một lời nói hay hành động không dễ thương là ta lập tức nghĩ ngay kẻ này muốn tấn công hay hãm hại mình, chứ ít bao giờ ta chịu suy xét đến nguyên do tại sao người ấy lại hành xử như vậy. Có thể họ đang bị kẹt trong một cơn cảm xúc xấu mà không biết cách kiềm tỏa, hoặc đơn giản chỉ là một bước trượt rất thường xảy ra trong một khoảng khắc của tâm lý, hoặc cách diễn đạt thông tin của họ còn nhiều vụng về. Nếu hiểu thấu vấn đề thì ta sẽ xót thương và tha thứ chứ không muốn trừng phạt nữa.

Khi gọi điện thoại cho người kia nhiều lần mà họ không nhấc máy thì ta nghĩ họ đang rất bận rộn hoặc có thể gặp khó khăn, hay là ta nghĩ họ đang muốn lẩn trốn hoặc coi thường mình? Cũng như có những người mới phát hiện ra khối u là đã tưởng tượng ngay mình bị ung thư loại ác tính, nên tinh thần nhanh chóng bị suy sụp rồi tự hủy hoại mình trong men rượu hay đắm chìm trong nước mắt tủi buồn. Đó là thứ tâm bệnh rất đáng sợ, nhiều người đã quyết định chấm dứt mạng sống của mình vì tưởng rằng cuộc đời này quá đen tối và ai cũng là kẻ xấu xa, nên phải đi tìm một thế giới khác mà theo trí tưởng tượng của họ là sung sướng và tuyệt vời hơn cõi đời này rất nhiều. Con người là vậy, bản năng luôn thôi thúc đi tìm những điều kiện thuận lợi cho cảm xúc thỏa mãn, nhưng lại không đủ sức để gánh chịu hậu quả hoặc không cần biết tới hậu quả.

Sống trong mộng tưởng

Khi không chấp nhận hiện tại thì con người thường mơ tưởng đến tương lai, chứ không chịu tìm hiểu để giải quyết những vấn đề khó khăn đang xảy ra. Nhiều khi vấn đề nằm ở nơi tâm mong cầu hay chống đối quá lớn của con người chứ không phải tại hoàn cảnh, bởi toàn cảnh luôn xảy ra theo nguyên tắc duyên sinh và nhân quả chứ không chìu chuộng theo nhu cầu của bất cứ cá thể nào. Nhưng thói quen đi tìm cảm xúc tốt mà không xét đến hậu quả đã khiến cho con người dễ dàng từ chối hiện tại và chìm đắm trong những giấc mộng xa vời. Đôi khi người ta biết nó không thật, không thể xảy ra được, nhưng thà sống trong giấc mộng còn hơn với thực tại quá đỗi phũ phàng!

Nhưng làm sao ta có thể nắm bắt được tương lai trong khi ta hoàn toàn thất bại với hiện tại? Có nhiều người may mắn đã thực hiện được giấc mơ của mình, nhưng lại không đủ sức để giữ gìn nó hoặc mau chóng nhàm chán. Khi tâm của ta chưa nhận ra được đâu là giá trị hạnh phúc chân thật để biết ta bằng lòng với những gì mình đang có thì ta sẽ không ngừng dệt lên những giấc mộng tương lai. Có những giấc mơ được dệt trên một tâm thức rất nông cạn, phải tiêu tốn rất nhiều thời gian và năng lực mới thực hiện được, nhưng rồi người ta bỗng phát hiện ra sự vô nghĩa của nó chỉ trong thoáng chốc. Có những thứ gọi là hoài bão nhưng nó đã khiến người ta bỏ qua rất nhiều giá trị mầu nhiệm trong hiện tại, đánh mất chính mình và mỏi mòn trong thế giới mông lung của chờ đợi.

Sự ra đời của công nghệ thông tin đã đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc thăng tiến đến đỉnh cao vinh quang của nền khoa học kỹ thuật hiện đại. Bây giờ con người dễ dàng khai thác tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, và có thể chia sẻ mình trước nhiều bạn bè ở nhiều nền văn hóa khác nhau trên khắp thế giới thông qua mạng lưới internet. Nhưng từ khi con người có được điều kiện thuận lợi ấy để khám phá thế giới thì cũng chính là lúc con người đánh mất khả năng làm chủ chính mình hơn bao giờ hết. Con người bấy giờ rất sợ phải đối diện với chính mình hay truyền thông với người khác để hiểu nhau, vì họ có thể tìm thấy những cảm giác dễ chịu, thỏa mãn và cả những giấc mơ táo tợn nhất trong thứ công nghệ văn minh ấy rồi.

Lợi dụng yếu điểm này mà những nhà làm kinh tế đã chế biến ra những trò chơi điện tử, từ mục đích giải trí thông thường rồi theo lợi nhuận mà họ hình thành luôn một thế giới ảo. Một đứa trẻ 13 tuổi không thể điều khiển nổi một con diều bằng giấy đang chao đảo trước gió, nhưng nó lại rất tự hào vì chỉ trong thoáng chốc là có thể hạ gục mấy chục đối thủ đáng gườm trong trò chơi điện tử. Đứa bé ấy cho rằng đó mới là hành động của một gã đàn ông đích thực, còn chơi diều là yếu đuối, là chán ngắt.

Mà đâu chỉ có trẻ con, khi người lớn không tìm thấy thành công trong công việc hay trong các mối quan hệ tình cảm thì học cũng tìm tới thế giới ảo đó để thể hiện cái tôi của mình. Trong thế giới đó họ có thể làm bất cứ điều gì, dù là thể hiện uy quyền cao tột của một đức vua, miễn là họ có tiền để chi trả cho cái vai đó. Mỗi ngày ta thấy đầy dẫy những xác không hồn lang thang ngơ ngác khắp phố thị như vậy, đi giữa ban ngày mà họ như kẻ mộng du không biết mình đang đi đâu, làm như thế giới này không thuộc về họ nữa.

Vì để bắt kịp nhịp sống xã hội nên con người đã lao mình vào những điều kiện thuận lợi nhất mà quên hẳn việc bảo vệ phẩm chất tâm hồn. Một tâm hồn xơ xác bệ rạc thì có nắm giữ bao nhiêu quá trị hạnh phúc cũng sẽ trở thành vô nghĩa. Mà muốn bảo vệ tâm hồn thì phải tránh xa những nơi hiểm nạn, hoặc muốn vào những chỗ ấy thì phải trang bị kỹ những áo giáp kiên cố. Một giờ phiêu lưu ngoạn mục trên internet ta nhận được sinh tố hay độc tố và năng lượng ấy sẽ lan tràn tới đâu? Khi máy vi tính bị virus tấn công thì ta còn có những chương trình để diệt, còn khi tâm hồn ta bị nhiễm ô thì ta sẽ lấy gì để tẩy rửa cho trong sáng trở lại? Cho nên hãy coi chừng thứ tân tiến nhất chính là thứ hủy diệt mầm sống và đạo đức của con người nhiều nhất, ta phải cẩn thận lắm mới được.

Đi theo một chủ thuyết hay một tôn giáo cũng vậy. Ta rất dễ để đức tin của mình đưa mình vào thế giới của mộng tưởng ở tương lai mà họ đã vẽ đặt ra để ru ngủ ta, để ta tạm quên đi thực tại khổ đau và sẵn sàng giẫm đạp lên những điều kiện hạnh phúc mà đi mỗi ngày. Dù ta là người có hiểu biết, nhưng khi rơi vào những hoàn cảnh bức ngặt thì con tim yếu đuối lại níu ta vào vũng lầy mê tín ấy. Để rồi càng ngày ta càng lánh xa cuộc đời, cắt đứt mọi liên hệ tình cảm, tâm hồn luôn mơ màng về cõi mà chưa ai từ nơi ấy trở về để xác thực. Đây cũng là một thứ tâm bệnh, nhưng không được đem ra chữa trị vì không ai dám động tới đức tin của con người.

Quay về nương tựa

Thực ra tâm con người vốn sáng tỏ tợ trăng tròn, nhưng vì con người đã để cho nhu yếu hưởng thụ vượt quá giới hạn nên nó đã đánh thức những năng lượng xấu trong chiều sâu tâm hồn để tranh đấu vào bảo vệ quyền lợi cho nó. Đó chính là những đám mây đen u ám có khả năng che khuất tất cả những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy trong ta, làm ta mất dần khả năng sáng tạo và khám phá, khiến ta luôn kẹt vào bản năng cảm xúc mà không còn nhìn đời và nhìn người bằng con mắt chánh kiến nữa. Không có con mắt chánh kiến thì sống giữa cuộc đời rất thực này ta cũng như kẻ đang đứng trong mộng ảo.

Ý thức được tình trạng tâm thức của ta đang trong chiều hướng lệch lạc về phía ảo tưởng, ta hãy can đảm quay về làm mới và nâng cấp tâm hồn mình. Tâm của ta cũng giống như một khu vườn, trong quá khứ vì vướng vào những nhận thức sai lầm nên ta đã bỏ vườn tâm của mình hoang tàn, cỏ dại mọc đầy và hút hết kháng chất của những gốc cây quý giá. Ta hãy tập dừng lại để nhận biết và quan sát bước đi, giọng nói, hơi thở, từng dòng cảm xúc đang len lỏi, hay những ý niệm đang không ngừng diễn ra trong tâm thức thay vì quan tâm đến phản ứng thương ghét của kẻ khác. Mỗi khi ta phát hiện ra tâm mình đang lang thang rong ruổi về tương lai thì ta cần quan sát kỹ động cơ nào đã thúc đẩy, tức là guồng máy hoạt động của nó, trước khi ta đem nó trở về an trú với thực tại.

Lẽ dĩ nhiên nhờ trí tưởng tượng phong phú mà chúng ta đã xây dựng được một thế giới tuyệt mỹ như hôm nay. Nhưng nếu nhìn sâu sắc hơn ta cũng sẽ giạt mình khi biết địa cầu này cũng đang rên siết và có thể bị hủy diệt cũng vì mộng tưởng điên đảo của con người. Trí tưởng tượng nếu đứng trên nền tảng của lòng tham, phục vụ cho nhu cầu ích kỷ của những kẻ có quyền lực thì nó sẽ nhấn chìm thế giới hiện thực này và sẽ đưa con người vào những cơn hôn mê bất tận. Hãy giã từ bớt thế giới của phim ảnh, của âm nhạc, của trò chơi tiêu khiển có tính chất làm cho ta bay bổng trong những dòng cảm xúc thừa thãi nhưng lụn bại khả năng chuyển hóa khổ đau trong thực tại. Thay vào đó, ta trở về với thiên nhiên để nhìn nắng lên, hoa nở, và nghe lại những lời nhắc nhở hào hùng của núi sống. Nơi ấy ta sẽ thấy cuộc đời này rất thực và nhìn đâu cũng thấu tận nguồn cơn.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com

Đăng bởi: NT | 26/08/2009

NHẨN NHA CHUYỆN TRỘM – TRÙNG TUYÊN

TRÙNG TUYÊN
Nguồn: Báo Giác Ngộ 494
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Khả năng nhìn nhận sự việc để không gây khổ thêm cho người là rất quan trọng. Bố từng bảo, con người ta giao tiếp với sự sự vật vật bằng cái giác quan của cái ngã của mình, nên từ đó mới có phân biệt ta – người, được – mất, hơn – thua, thành – bại, vinh – nhục. Đó là cái biết đắm chìm trong khổ.

Hồi đầu thập niên 1980, quê tôi nghèo xơ xác. Điều này cũng dễ hiểu bởi ở vùng nắng gió cực Nam Trung Bộ lúc bấy giờ những người nông dân vẫn bốn mùa bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, chăm chắm trông vào những cánh đồng cằn cỗi, với nguồn nước trời mưa cho mỗi một vụ lúa từng năm.

Nhà tôi vách lá, mái tôn thủng lỗ chỗ, tài sản chẳng có chi ngoài vườn rau và hai cây cột bằng gỗ căm xe bố tôi dùng chống vách sau để phòng những cơn gió Nam bất thần giật phăng ngôi nhà đi như chuyện thường thấy ở xứ này.

Ấy thế mà nhà tôi lại mất trộm. Kẻ trộm đến vào ban đêm, thoạt đầu chúng tháo các thanh tre bố tôi dùng làm hàng rào. Kế tiếp chúng nhổ những trụ rào – loại gỗ tạp chỉ có thể dùng để chẻ củi, nấu bếp. Điều kỳ lạ là kẻ trộm có vẻ rất nhẩn nha, mỗi đêm chúng đến nhổ một ít trụ rào, tháo vài thanh tre, cứ như thế khoảng ba tuần thì hàng rào nhà tôi bị chúng dọn sạch. Khi đó tôi còn nhỏ, việc mất trộm xem như “chuyện của người lớn” nên tôi không được ý kiến. Chỉ nhớ vào khi bắt đầu mất trộm, sáng ra bố tôi có đi quanh xóm với chú Sáu, và trong buổi cơm tối đó bố có nói gì đó với má tôi, đại loại bố đã biết kẻ trộm là ai rồi.

Mặc dù phán đoán như vậy, bố tôi cũng nhẩn nha để cho kẻ trộm dọn sạch ba bề bốn bên toàn bộ hàng rào nhà tôi – một “công trình” mà nhà tôi phải dành dụm khá lâu mới “trang bị” được .

Lúc đó, tôi không hề gợi lên suy nghĩ rằng: tại sao trong một thời gian dài kẻ trộm xuất hiện đều đặn ở vườn nhà tôi mỗi đêm, mà bố tôi không nhờ chính quyền can thiệp; hay chí ít, bố hoàn toàn có thể hành xử theo cách mà người dân vùng tạp cư chỗ nhà tôi thường hay làm: kêu người phục trong đêm “xử” bọn trộm một trận. Với trường hợp kẻ trộm nhẩn nha như thế, việc ra tay với chúng chắc hẳn là rất dễ.

Nhưng không, bố tôi vẫn hằng ngày đạp xe đi làm, và chứng kiến các thanh trụ rào lần lượt “đội nón ra đi”. Đến trước hôm chiếc trụ rào cuối cùng bị nhổ, bố tôi hí hoáy khoan lỗ hai đầu cột căm xe đang chống vách nàh sau và dùng dây kẽm gai buộc chắc vào đuôi kèo sát mái tôn. Thấy tôi đứng nhìn, bố bảo:
– Sau khi nhổ hết trụ rào, thế nào cũng đến lượt hai cây cột căm xe này. Nhưng nó là loại gỗ quý, không nên để mất.

Bố nói rất đỗi tự nhiên, như thể đang để cập đến một việc làm của chính mình chứ không phải nói về kẻ trộm.

Quả thật đêm sau, khi cả nhà đang ngủ thì nghe rõ tiếng cây trụ căm xe chống vách sau bị nâng lên, gỡ ra khỏi vách nhưng vì bố tôi đã buộc vào đuôi kèo nên sự việc ấy gây ra tiếng va quệt vào mái tôn. Nghe thế, bố tôi đang nằm trong nhà nói vọng ra bằng một giọng rất tỉnh ngủ:

– Tui cột chắc rồi, không gỡ được đâu.

Sau đó, mọi việc đều im ắng.

Sau đó, tôi nhớ có lần bố tôi nói, đại ý là những người ăn trộm như vậy, trước sau gì cũng không ở được đất này. Tôi có nghe, nhưng cũng không lưu tâm.

Đến khi lớn lên, những thắc mắc về việc bố tôi đối xử với bọn trộm cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi đem hỏi bố. Ông bảo:

– Thực ra, ngay từ đầu bố để ý các loại củi của những nhà trong xóm đã biết ngay ai là kẻ trộm. Nhưng thôi, nhà người ta nghèo quá, con cái nheo nhóc, bản thân người ta ít học, con cái họ cũng lại không được đi học, cách kiếm sống như vậy cũng là phải thôi.

Tôi cãi, cho rằng việc dung dưỡng những kẻ trộm như vậy cũng không hẳn là tốt. Nhưng bố bảo:

– Câu chuyện mất trộm các trụ rào, nếu nhìn ở góc độ nhà mình và kẻ trộm, thì việc bố làm có vẻ như dung dưỡng một hành vi xấu, phạm pháp. Nhưng, nếu con tập nhìn rộng ra, thì sẽ thấy pháp luật hiện đang thực thi như thế nào ở quê hương mình, khi mà những người thân cô thế cô vẫn không thể dựa vào luật pháp để yên ổn, bằng chứng là các vụ thanh toán nhau ở cái xứ tạp cư này vẫn diễn ra đều đều như con đã thấy. Con hỏi bố sao không “xử” bọn trộm ư? Việc ấy dễ đến mức con còn nghĩ đến được, lẽ nào bố không biết. Nhưng vì một số mất mát, mà mình ra tay với họ, nhẹ thì cũng bệnh tật, nặng thì cũng tàn phế. Như vậy thì từ chỗ họ khổ vì nghèo đối đến nỗi phải đi ăn trộm, dẫn đến họ khổ vì bệnh tật bởi đòn thò. Mà người ta có ai muốn mình khổ đâu, bởi cuộc sống khó khăn, điều kiện bản thân chật vật, bần cùng sinh đạo tặc, người ta làm như vậy là sẵn sàng đánh đổi mạng sống để kiếm miếng ăn. Mình chưa đến nỗi mất miếng ăn, mà lại định đổi tính mạng hay sự lành lặn của họ hay sao. Bố không chọn cách đó là vậy.

Về lời nhận định những người lấy trộm trụ rào của nhà tôi “sẽ không ở được đất này”, cũng được bố giải thích:

– Thực ra, cả xứ này toàn là dân tạp cư, nhiều thành phần phức tạp và rất hung dữ. Họ trộm nhà mình thì được, nhưng nếu ăn quen, trộm sang nhà khác, thì chắc chẳng thể yên thân như với nhà mình đâu.

Hóa ra, kẻ trộm chính là một nhà hàng xóm, cách nhà tôi dăm nóc nhà và vài khoảnh ruộng. Lúc tôi nghe những lời giảng giải của bố, thì quả thật nhà ấy đã rời xóm tôi đi đâu từ lâu rồi, tôi chỉ nhớ rõ “nhà ấy” bỏ đi sau một lần bị cháy nhà, cháy vào lúc xế chiều, giữa mùa khô ráo, không rõ nguyên nhân. Hình ảnh cuối cùng tôi nhớ được về họ – những người láng giềng bình thường cho đến khi bố kể – là những đứa con nheo nhóc, bụi bặm, có đứa trạc tuổi tôi nhưng không hề đến trường.

Sau này lớn hơn, đi lại nhiều nơi, tôi nhớ lại lời bố mới thấy khả năng nhìn nhận sự việc để không gây khổ thêm cho người là rất quan trọng. Bố từng bảo, con người ta giao tiếp với sự sự vật vật bằng cái giác quan của cái ngã của mình, nên từ đó mới có phân biệt ta – người, được – mất, hơn – thua, thành – bại, vinh – nhục. Đó là cái biết đắm chìm trong khổ.

Thuở ấy, tôi từng ấp ủ rằng đến một lúc nào đó “đủ sức hiểu”, tôi sẽ hỏi bố nếu như vậy thì làm thế nào để có cái biết không đắm chìm trong khổ. Nhưng tôi chưa kịp hỏi thì bố đã quá đời vì bạo bệnh. Bây giờ nhớ bố, cảm giác mất mát những cây trụ rào thuở xưa đã thay bằng ý nghĩ dường như qua đó tôi được nhận một bài học lớn từ bố, dẫu là không trọn vẹn do bản tính rụt rè không chịu hỏi của tôi thuở thiếu thời. Nhưng có lẽ, đó cũng chính là điều gửi gắm của bố: hãy tự mình tìm lấy “cái biết không đắm chìm trong khổ”.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com

Đăng bởi: NT | 21/07/2009

Nước Mắt Thiền Sư

TÂM NGUYỄN
Nguồn: Báo Giác Ngộ 493
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Có một người trung niên sau khi xuất gia trở thành một vị cao tăng, trụ trì một tu viện cách rất xa gia đình. Rất nhiều người ngưỡng mộ danh đức của ngài nên đến xuất gia cầu học.

Ngài luôn dạy các đệ tử nên đoạn trừ thế duyên để liễu ngộ chân lý, tinh tấn phát huy trí tuệ, phá trừ ngã chấp, tự độ độ tha. Và ngài nhấn mạnh chỉ có đoạn trừ tình ái thế gian thì mới có khả năng đạt được giải thoát.

Một ngày nọ, từ nơi quê hương xa xôi của ngài truyền đến tin chẳng lành. Đứa con duy nhất của ngài lúc chưa xuất gia đã lâm trọng bệnh qua đời. Các đệ tử sau khi nhận được tin cùng nhau tụ tập lại luận bàn, chẳng biết là có nên báo tin buồn này cho sư phụ biết hay không?

Cuối cùng họ đi đến kết luận: Sư phụ đã đoạn trừ thế duyên rồi, đứa con duy nhất đó dù sao thì cũng là người thân của ngài, nên báo tin không vui này cho ngài biết. Đồng thời họ cũng nghĩ sư phụ là người đã tu hành đến mức cao như vậy rồi, nếu nghe tin đứa con duy nhất chết thì cũng chỉ thản nhiên thôi.

Thế là họ cùng nhau đi đến báo tin này cho thiền sư. Khi vị cao tăng vừa nghe tin thì mặt buồn rười rượi, hai dòng nước mắt cứ lăn dài xuống má. Các đệ tử vừa nhìn thấy sư phụ có phản ứng như vậy thì cảm thấy rất lạ, họ cũng không ngờ sư phụ qua thời gian dài tu hành như vậy mà cũng chưa đoạn trừ được tình cảm.

Trong nhóm đệ tử có một người can đảm đứng ra chắp tay hỏi:

– Sư phụ, bình thường sư phụ hay dạy chúng con đoạn trừ thế duyên, cần cầu giải thoát. Sư phụ xuất gia đã lâu vì sao nghe tin con chết lại đau khổ nhiều như vậy, như thế có phải là ngược lại tất cả những gì mà hằng ngày sư phụ vẫn thường dạy chúng con không.

Trong đôi mắt đẫm lệ, thiền sư ngước lên nói:

– Ta dạy các người đoạn trừ tình cảm thế tục mong cầu thành tựu giải thoát, chứ không phải dạy các người sống cuộc sống ích kỷ chỉ biết có mình. Đứa con của ta cũng là một trong những chúng sanh, tất cả chúng sanh cũng giống như con của ta. Ta vì đứa con của ta mà khóc, cũng là vì nỗi đau của tất cả chúng sanh trong thế gian mà khóc vậy!

Sau khi các đệ tử nghe lời ngài dạy, trong lòng tràn đầy thương cảm, mở rộng tình thương, tinh tấn tu học, cần cầu giải thoát.

(Theo Hoa Linh Thoại,
Như Nguyện dịch)

BÀI HỌC ĐẠO LÝ

Một bậc cao tăng phạm hạnh đáng kính đã rơi nước mắt khi nghe người thân của mình ra đi. Chuyện thật bình thường, ấy vậy mà rất lạ, làm cho những đệ tử và tín đồ ngơ ngác, chẳng biết tại sao? Thì ra dù đã đoạn trần duyên, một đời ẩn dật dấn thân cho sự nghiệp giải thoát, bất động giữa muôn trùng biến động nhưng ngài vẫn là một con người tràn đầy bi mẫn, vẫn yêu thương tha thiết trần gian ô trượt này.

Ai đó nghĩ rằng, tu hành càng cao thì tình cảm càng héo khô như gỗ đá thì thật sai lầm. Cũng do vậy mà một thiền tăng ngày xưa sau ba năm tu hành luyện tâm như củi khô, đá lạnh đã bị bà già hộ pháp nổi lửa đốt cốc đuổi đi, vì “vô dụng”. Tu hành mà không còn rung cảm trước buồn vui của trần thế thì làm sao mà phát khởi đại nguyện cứu độ chúng sanh.

Trước khi trở thành Thánh nhân, chúng ta phải đích thực là một con người. Khi đã trở thành bậc Thánh rồi thì lại càng người và đời hơn. Cho nên, cùng là nước mắt nhưng không bi lụy, riêng tư, đau khổ mà chính là từ bi, yêu thương rộng khắp. Sống trong cuộc đời mà bất nhiễm, xuôi theo dòng đời mà không bị cuốn trôi, song hành với cuộc đời để yêu thương và cứu độ. Đó mới là hành động cao cả và bi mẫn nhất mà không phải người tu hành bình thường nào cũng làm được.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 21/07/2009

Thành kiến

MINH NIỆM
Nguồn: Báo Giác Ngộ 492
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Bức tường ngăn cách

Ta hay có thói quen nhìn vào bất kỳ đối tượng hay tình huống nào đang xảy ra trong thực tại bằng kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được trong quá khứ. Có thể do một số kinh nghiệm cũ thích ứng phần nào với tình trạng thực tại, nên ta thường rất tin tưởng và tự hào về sự thông minh và nhạy bén của mình, mà không chịu khám phá hay xét nét cẩn thận. Nếu quan sát kỹ và công tâm nhìn nhận ta sẽ thấy cũng không ít lần mình đã tiên đoán sai và có những bước trượt rất đáng tiếc trong quyết định. Bởi vì mọi sự vật sự việc trong vũ trụ này vốn không ngừng vận động, có khi nó biến chuyển nội dung bên trong nhưng cũng có khi thay đổi cả hình dáng bên ngoài. Nó có thể hay hơn hoặc tệ hơn, chứ không bao giờ giữ nguyên một trạng thái.



Nhưng cuộc sống quá bận rộn nên ta thường không có nhiều thiện chí để nhìn bất cứ đối tượng nào cũng bằng tâm thức mới, sử dụng kinh nghiệm cũ có vẻ như khỏe và mau chóng giải quyết được vấn đề, và kết quả như thế nào thì may nhờ rủi chịu. Một phần cũng do bản năng tự vệ cử con người chưa thuần hóa còn nhiều vụng về thô thiển, nên khi phát hiện ra cái gì có tính cách ảnh hưởng đến quyền lợi của mình là phản ứng bảo vệ ngay lập tức, bằng những tâm lý như: nổi giận, phán xét, nghi ngờ, độc tài, kỳ thị… mà không chịu bình tâm để kiên trì quan sát và tìm hiểu rõ sự thể. Cho nên hầu hết mọi người đều không có thói quen tách rời kinh nghiệm cũ của mình khi quan sát thực tại, chính vì thế mà họ vẫn thường rơi vào nhận thức sai lầm và đánh mất đối tượng.

Như trong quá khứ ta đã từng bị người thân yêu lừa dối hay phản bội, cái vết thương ấy sẽ khắc ghi sâu đậm trong tâm thức, nên khiu muốn thiết lập tình cảm với người mới thì ta rất hoang mang lo sợ. Đó là một lỗi lầm của tâm lý, vì có thể người mà ta đang tiếp xúc trong hiện tại hoàn toàn khác biệt với người cũ. Nhưng ta không đủ sức để vượt qua bản năng tự vệ của mình, ta đã cố nhiều lần nhìn người ấy như chính họ đang là, ta đã nhiều lần nhắc nhở mình người này không phải là người trước, và rồi cuối cùng ta cũng vẫn thất bại. Cố nhiên là vết thương lòng thì khó mà quên được, nhưng thay vì ta cần cho đôi bên những cơ hội vừa đủ để tìm hiểu nhau và tin tưởng nhau hơn, thì ta lại mang tâm thức nghi ngờ sự lừa dối hay phản bội ấy trong suốt cuộc hành trình chung bước với nhau. Bức tường ngăn che ấy chính là thành kiến.

Thành kiến chỉ đơn thuần là thái độ bám víu vào kinh nghiệm cũ để áp đặt lên thực tại, nên có thành kiến tốt và thành kiến xấu. Nói dễ hiểu là ta thường đeo mắt kính màu hồng và mắt kính màu đen khi nhìn người, nhìn đời. Nếu ta đã từng biết người kia rất dễ thương, bằng kinh nghiệm trực tiếp hay thông qua kinh nghiệm của người khác, thì khi gặp họ ta sẽ có thiện cảm và hết lòng ngay mà không cần phải quan sát hay khám phá gì thêm nữa. Đó là ta đang đeo mắt kính màu hồng, thấy họ nói cái gì cũng hay, làm cái gì cũng tuyệt. Bây giờ phương tiện truyền thông và quảng cáo rất mạng mẽ, chỉ cần một bài báo ca ngợi hết lời về nhân vật đó thì lập tức trong ta nảy sinh ngay cảm tình, sau này có cơ hội tiếp xúc ta sẽ dễ dàng bỏ qua bước quan sát và thận trọng căn bản.

Trường hợp ta được biết người kia là kẻ xấu, dù thông tin ấy chưa có gì đảm bảo là chính xác, nhưng ta vẫn có khuynh hướng thích đeo mắt kính màu đen trước cho chắc ăn. Cho đến một ngày ta không còn khả năng lấy chiếc mắt kính màu đen ấy ra nữa, nhìn đâu cũng thấy một màu tăm tối, nhìn ai cũng dị ứng, thấy họ là những kẻ đang muốn hơn thua hay hãm hại mình. Từ thành kiến đi tới cố chấp là một khoảng cách rất nhỏ, nếu thiếu bản lĩnh để sẵn sàng tiếp nhận bất kỳ điều gì mới lạ xảy ra thì ta sẽ dễ dàng đóng bằng những nhận thức mà mình đang có. Những người bị thành kiến khống chế sẽ không còn cơ hội để thấy được những giá trị mầu nhiệm của sự sống đang hiện hữu, sẽ trở thành nạn nhân của lối sống u uất nặng nề, rất dễ đi tới mặc cảm lạnh lùng và bế tắc.

Giữ gìn con mắt trong

Cho nên tổ tiên thường khuyên “thấy sao để vậy”, hãy nhìn đúng sự vật sự việc như chính nó đang biểu hiện ra, chứ đừng nhìn như chính tâm trạng hay kinh nghiệm mà mình đang có. Cái đó là cái nhìn của con mắt trong, cón mắt không bị bụi đời làm vẩn đục. Từ lâu rồi, ta đã quên sử dụng con mắt thật thà và hồn nhiên vốn có của mình. Nhìn nahu bằng con mắt ấy ta thấy dễ chịu và gần gũi hơn, cơ hội thấu hiểu và thương yếu nhau sẽ dễ xảy ra hơn. Nhưng xã hội hiện đại có quá nhiều chiêu thức tinh xảo, vì nhu cầu hưởng thị mà người ta không màng đến thật giả hay đúng sai, nếu không có một đời sống tỉnh thức và bản lĩnh thì ta sẽ khó phát hiện ra kịp thời và đủ sức để tách ly sự đồng hóa ấy.

Sống trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, ai ai cũng tranh thủ quyền lợi mà không quan tâm đến sự ô nhiễm tâm hồn thì ta cũng khó tránh khỏi. Lân dần nó hình thành thói quen như một bản tính tự nhiên, mỗi khi ta phát hiện một vài hành vi của đối phương tương tợ như kinh nghieejm đã có thì ta vội vàng kết luận, phán xét. Đôi khi chỉ vì một người mà ta coi khinh rồi kỳ thị cả một đoàn thể, một truyền thống, hay một dân tộc. Bởi thói quen ích kỷ của con người là hễ thấy cái gì trái ngược hay tác hại đến mình là phòng ngự và sẵn sàng loại trừ nếu có thể. Cho nên một người có hiểu biết sẽ luôn ý thức giữ gìn con mắt trong của mình, can đảm chấp nhận những hư hao về tài sản và danh dự, tại vì nó quyết định cho một đời sống an bình và một liên hệ tình cảm tốt đẹp.

Ta nên nhớ là bản chất của vạn sự vạn vật là vô thường, thì con người cũng vô thường và kinh nghiệm cũng vô thường. Trong quá khứ người kia còn nhiều vụng về lầm lỡ thì bây giờ họ có thể đã thay đổi rất nhiều, ta hãy cho họ có một cơ hội được sống với con người mới trước ta, và ta hãy tự cho mình một cơ hội sống bằng tâm thức mới trước họ. Khó khăn nhất là đối với những người thân sống chung quanh ta, ta thường không dễ nhìn thấy sự chuyển biến và phát triển của họ. Người mẹ lúc nào cũng thấy con mình khờ dại chẳng biết gì, sự quan tâm và mong muốn luôn dựa trên kinh nghiệm cũ, nên vô tình giới hạn cơ hội trưởng thành của người con. Người vợ lúc nào cũng cho rằng mình đã hiểu hết chồng rồi, khả năng lắng nghe và quan sát không hề mài dũa, nên vô tình cô lập hóa cảm hứng sáng tạo và chuyển hóa của đối phương.

Sống với một người không biết ghi nhận những biến chuyển của mình, không thấy được mình đang có những nếp nhăn trên trán hay những khó khăn bế tắc trong lòng, để có một lời an ủi hay giúp đỡ kịp thời, thì đời sống ấy sẽ rất nhàm chán. Đó cũng là lý do mỗi khi ta gặp một người mới thì rất hân hoan vui sướng và muốn duy trì mãi giấy phút được quan sát bằng con mắt không thành kiến. Đời sống vốn xuôi theo chiều hối hả, con người lại bị ảnh hưởng quá nhiều bởi kỹ thuật điện tử nên rất dễ trở thành kẻ sống hời hợt và cứng nhắc, cái gì lưu trữ vào não bộ của mình rồi thì không dễ gì lấy ra. Lối sống ấy là lối sống nhút nhát và tụt hậu, không can đảm mở lòng ra để cập nhật thông tin mới nhất từ đối phương, thì đừng hỏi tại sao sống với nhau mà không thể hiểu và thương nhau. Hiểu và thương là một quá trình luyện tập chứ không chỉ là vấn để của ý chí.

Phần lớn ai cũng sợ buông bỏ xuống những kinh nghiệm của mình, vì nó được tích lũy trong một quá trình lâu dài gian khó, nên người ta thương xem nó như sinh mệnh của mình, nếu ai coi thường nói là coi thường chính mình, nếu không sử dụng nó thì ta sẽ không còn gì nữa cả. Lẽ dĩ nhiên có những kinh nghiệm rất hữu dụng, nhưng cái kho là ta không biết nên dùng vào lúc nào và liều lượng bao nhiêu. Vì trong khi sử dụng kinh nghiệm cũ thì ta thường không còn thiện chí để tìm hiểu khám phá thêm, mà kinh nghiệm cũ dù hay ho tới đâu cũng không bao giờ diễn đạt hết về thực tại. Cho nên giới hạn lối dùng kinh nghiệm cũ một cách máy móc là để ta không bị nó khống chế và cũng để ta trau dồi kỹ năng khám phá, sáng tạo. Bởi bản chất của con người và vũ trụ này luôn kỳ bí, ta phải có một con mắt trong suốt, vững vàng thì mới hy vọng tìm ra đáp số đúng.

Mỗi ngày ta hãy tập ngồi yên để thanh lọc lại kinh nghiệm vừa mới tích góp của mình. Nếu kinh nghiệm đó không có tính chát nuôi dưỡng khả năng hiểu biết và thương yêu thì ta không cần phải để nó chiếm quá nhiều dung lượng tâm thức. Những kinh nghiệm nào chỉ tồn tại như một thói quen ngẫu nhiên, trong vô thức mà ta đã lưu trữ, thì hãy đem nó ra phân tích và buông bỏ từ từ. Mỗi khi tiếp xúc với bất kỳ đối tượng nào, ra cũng luôn tự nhắc nhở hãy nhìn vào thái độ của mình, xem mình có đeo mắt kính màu hồng thiện cảm hay mắt kính màu đen ác cảm không? Nếu có thì sớm tìm cách dừng lại cuộc tiếp xúc đó mà trở về chỉnh đốn lại tâm lý của mình. Bằng lối sống tỉnh thức như thế, ta sẽ luôn có cơ hội nâng cấp nhận thức, mở rộng tầm nhìn, không để nó bị chai cứng hay xói mòn chỉ vì những quyền lợi ích kỷ nhỏ nhen.

Cái cũ tuy quen thuộc nhưng nghèo nàn, cái mới thường không dễ chịu nhưng có khả năng đem tới một không gian rộng rãi cho đời sống. Vậy ta còn ngại ngần chi mà không dám khai tử những ý niệm hay những kinh nghiệm vốn chỉ để bảo vệ cảm xúc nhất thời. Sự an bình và thảnh thơi của tâm hồn chỉ thật sự hiện bày ra khi nào những phiền não trong ta rơi rụng xuống.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Đăng bởi: NT | 21/07/2009

Món nào tốt hơn

Bác sĩ LƯƠNG LỄ HOÀNG
Trung tâm Oxy Cao áp, TP.HCM
Nguồn: Báo Giác Ngộ 490
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD: Viên Lâm

Mấy ai ra chợ muốn về không? Nhất là khi món ngon xứ mình quá đỗi hấp dẫn. Kẹt chỉ cho người phải nấu ăn cho người bệnh! Biết mua gì đây để vẫn ngon miệng mà ít tốn thêm tiền cho … thầy thuốc?



Nói chung, nếu chỉ xét về giá trị dinh dưỡng quả thật khó nói thịt hay cá, thực phẩm nào tốt hơn? Vì loại nào cũng được này mất kia. Nhưng với người bệnh tiểu đường thì cá, cụ thể là cá biển, rõ ràng có lợi hơn thịt vì nhiều lý do:

• Người ăn quá nhiều thịt, thay vì cá, là đối tượng dễ bị ung thư ruột. Bệnh này lại là một trong các chứng bệnh đồng hành gắn bó với bệnh tiểu đường. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tỷ lệ ung thư ruột tăng gần 50% ở người tiêu thụ tròm trèm 100g thịt mỗi ngày. Với người dùng hơn 100g thịt mỗi ngày thì khả năng mắc bệnh có thể tăng đến 70%! Tỷ lệ này cao hơn nữa nếu vừa ăn thịt vừa uống bia! Nói chung, người bệnh tiểu đường không nên có thịt trên bàn ăn nhiều hơn 3 lần trong tuần, mỗi lần không nên nhiều hơn 120g. Cũng đừng ăn hoài một thứ thịt. Càng thay đổi càng tốt. Thêm vào đó, cho dù thèm thịt cách mấy cũng nên tránh xa các món thịt xông khói cũng như giảm thiểu các món chiên, món nướng và thay vào đó bằng món nhúng, món luộc, món hấp.

• Ngược lại, khẩu phần có nhiều cá biển, tỷ lệ ung thư ruột càng thấp. Bằng chứng là số người bệnh tiểu đường có 100g cá trong khẩu phần bị ung thư ruột chỉ bằng phân nữa nhóm đối chứng với thói quen “trọng thịt khinh cá!”

• Thầy thuốc ở Đại học Rush, Chicago đã chứng minh là chức năng tuần hoàn của người cao tuổi bị bệnh tiểu đường được cải thiện thấy rõ nếu họ được bồi dưỡng với cá biển giàu 3-Omega như cá mòi, cá hồi, cá thu… dù mỗi tuần chỉ một lần. Người bệnh tiểu đường nếu có thêm vấn đề với rối loạn biến dưỡng chất béo và bệnh tim mạch nên uống thêm thuốc có chứa dầu béo 3-Omega vừa dồi dào chất đạm lại không gây gánh nặng cho lá gan và trái thận.

• Cá nước ngọt thường không chứa nhiều 3-Omega, nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Đó là cá basa, tất nhiên với điều kiện cá không được vỗ béo bằng thuốc kháng sinh, với nội tiết tố tăng trưởng…

Đừng quên cảm giác thèm thịt cá là do cơ thể cần chất đạm. Tình trạng này càng rõ nét hơn nữa với người bệnh tiểu đường do rối loạn biến dưỡng chất đường bao giờ cũng kèm theo mất quân bình về chất đạm và chất béo. Muốn người bệnh đừng quá thèm thịt cần bổ sung chất đạm gốc thực vật từ đậu nành. Cũng đừng quên người bệnh tiểu đường rất cần khẩu phần đa dạng. Dùng thịt cá đúng cách nhưng quên rau quả là một thiếu sót đáng trách. Rau hay quả đều cần thiết cho người bệnh tiểu đường vì là nguồn cung cấp nhiều loại sinh tố. Tùy theo mức độ ổn định của đường huyết mà “đầu bếp” nên chọn nhiều rau hay quả cho bữa ăn của người bệnh tiểu đường.

• Nếu lượng đường trong máu còn dao động nhiều thì rau cải có lợi hơn trái cây. Trong lúc đường huyết đang trồi sụt vô chừng nên tránh các loại trái cây quá ngọt để tránh tăng đường huyết đột ngột như sầu riêng, mít, xoài, lồng mức…

• Nếu không đổi được thói quen tráng miệng bằng trái cây nên chọn loại trái chua, chát, ít ngọt như ổi, bưởi, thanh long…

Nếu đường huyết đã ổn định thì không việc gì phải cữ trái cây. Nhưng đừng quên một nguyên tắc tối quan trọng trong chế độ dinh dưỡng của người bệnh tiểu đường. Đó là đừng mạnh miệng với bất cứ món gì. Món nào cũng chút chút cho vui. Đừng quên, không riêng gì bệnh tiểu đường, hầu như bệnh nào cũng thế, cũng thương do quá thừa một chất nào đó trong khi chất khác lại thiếu.

Phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Trích trong: Chương 1 – Sách: Nghệ Thuật Sống Đời Hạnh Phúc – của Dalai Lama
Đánh máy: Huỳnh Hoa – PD.Viên Lâm

Phần 1

Đó thực sự là một ngày dài dành cho Dalai Lama. Ngay khi Người vừa hoàn tất bữa điểm tâm đạm bạc của mình và dùng trà vào lúc 7:30 sáng, khi ấy Người đã trải qua bốn giờ đồng hồ thức giấc làm việc, hoàn tất thời gian biểu chặt chẽ của mình, gồm có đọc kinh, nghiên cứu và thiền định. Sau bữa điểm tâm Người bắt đầu công việc thường ngày của mình và một loạt những công việc trong ngày đang đợi Người: gặp gỡ hết người này đến người khác, đón tiếp một sĩ quan liên lạc thuộc chính phủ Ấn Độ, gặp gỡ vị thầy tăng dẫn đầu của một trong số những giáo phái thuộc Phật giáo Tây Tạng, gặp gỡ Tổng thống Nga, rồi đến một viên chức tha hương người Tây Tạng và nhiều thành viên thuộc văn phòng của Người. Và trong số này có những cuộc gặp gỡ cá nhân, tôi đã từng chứng kiến hình ảnh Người vui mừng đón tiếp những người Tây Tạng tha hương mới đến Ấn Độ. Họ đã thực hiện một chuyến đi gian khổ vượt qua dãy Himalayas bằng tất cả những phương tiện mà họ có thể tìm được, nếu họ may mắn thì họ có thể tìm được một chiếc xe buýt cũ kỹ nào đó, hoặc họ có thể quá giang những chiếc xe tải mục nát.


Một số đã phải đi bộ vượt qua biên giới gồ ghề chông gai, quyết tâm vượt qua những dãy núi cao ngất trời. thỉnh thoảng một đứa bé có thể bị mất một ngón tay hoặc ngón chân – do thời tiết quá sương giá. Nhiều người đến đây không một đồng xu dính túi, cơ cực nghèo đói trong trang phục chuba (loại trang phục truyền thống của Tây Tạng) nhàu nát và bẩn thỉu sau một chuyến đi dài. Những gương mặt già nua bởi sương gió và điều kiện khí hậu khắc nghiệt, mọi người đều thể hiện những đau khổ vô kể, tâm hồn chai sạn qua những năm tháng bị ngược đãi bởi người ngoài. Tuy vậy, tâm hồn họ như sống lại khi được trông thấy mặt Dalai Lama, giấc mơ đổi đời của họ, niềm hy vọng trong họ như chợt bùng lên khi được gặp gỡ Dalai Lama. Người trao cho họ, cả người trẻ lẫn người già, những lời hy vọng và khuyến khích, từ “Giáo dục là chìa khóa tiên quyết để thành công” cho đến “Các anh, là đàn ông, cần phải cẩn thận khi ra ngoài quan hệ với gái mại dâm – các anh có thể bị mắc bệnh đấy”.

Cuối cùng, vào lúc 2:00 chiều trong ngày của Người. Và đó là cuộc hẹn với tôi. Tôi được Người sắp xếp cho vài giờ đồng hồ vào buổi chiều để cộng tác cùng Người viết nên cuốn sách này, và tôi đã có mặt ở đây để trao đổi. Các cuộc thảo luận của chúng tôi không giống như những cuộc trò chuyện thân mật khác. Thực ra, tôi cũng không phải gây khó khăn cho Người lắm chúng tôi trang cãi nhằm hòa hợp giữa những triết lý Tây phương và Đông phương, tôi đặt ra vô số những câu hỏi khác nhau, trong số đó có một câu hỏi được Người cho là ngớ ngẩn hoặc không thể trả lời được, và chúng tôi cũng thường xuyên đùa tếu với nhau.

Đứng bên ngoài hành lang phủ đầy hoa giấy của Người, trong khung cảnh là những dãy núi Dhauladhar hùng tráng thuộc miền Bắc Ấn Độ, Dalai Lama chào đón tôi một cách nồng nhiệt khi Người dắt tôi vào trong nhà. Trong suốt hai mươi năm qua, căn phòng của Dalai Lama hầu như không thay đổi. Những bức tranh truyền thống của Tây Tạng, loại thanka, được treo rải rác trên những bức tường màu vàng xám, tại một góc phòng là bệ thờ được trang trí công phu, bên trong là một bức tượng Phật, một tấm bản đồ Tây Tạng lớn được dán lên bức tường đối diện. Thậm chí ngay cả những món trang trí nội thất cũng vẫn không thay đổi, ngoại trừ có lẽ chiếc trường kỷ đã được bọc lại.

Tôi cởi bỏ bao da chiếc máy tính xách tay của mình và dò dẫm tìm kiếm máy ghi âm của mình, chúng tôi ngẫu nhiên nói về những hoạt động của Người và những cuộc gặp gỡ của Người ở những ngày trước đó. Dalai Lama thường sắp xếp cuộc gặp với tôi vào khoảng cuối ngày của mình, vì thế tôi tha thẩn trong phòng khách để chờ đợi đến giờ gặp Dalai Lama, tôi thường có cơ hội quan sát những người đếm tìm gặp Dalai Lama. Vào ngày hôm ấy, tôi có ấn tượng với sự đa dạng về những người đến tìm gặp Dalai Lama, những người đếm tìm gặp Dalai Lama là những người đến từ mọi nơi trên thế giới.

Khi bắt đầu buổi thảo luận của mình, tôi nghĩ về điều này, và tôi nói: “ Ngài biết đấy, tôi không thể không có ấn tượng về sự đa dạng về những người đến tìm gặp ngài, mọi người ở mọi ngành nghề, mọi người ở mọi công việc. Và tôi đã suy nghĩ nhiều về việc ngài làm cách nào để có thể tham gia mọi loại hình hoạt động như thế. Vì thế, tuần này tôi muốn tập trung vào chủ đề công việc…”.

“Vâng. Tốt thôi”. Dalai Lama gật đầu.

“Và vì tuần này chúng ta sẽ nói về công việc, tôi hơi tò mò một chút, ngài nghĩ rằng đâu là công việc chính yếu của mình?”

Dalai Lama trông có vẻ bối rối. “Ý anh muốn hỏi điều gì?”

Tôi cũng bối rối vì không hiểu sao Người lại tỏ ra bối rối với câu hỏi này. Đây là một câu hỏi đơn giản thôi mà.

“Ồ, ở Tây phương”, tôi giải thích, “khi ngài gặp gỡ một người nào đó, câu hỏi đầu tiên ngài hỏi người lạ mặt đó là: “What do you do?”, câu hỏi này có nghĩa là, ‘Bạn làm nghề gì? Công việc của bạn là gì?’. Vì thế, nếu ngài gặp gỡ một người hoàn toàn lạ mặt và họ không biết ngài hoặc chưa từng bao giờ nghe nói về Dalai Lama và họ thậm chí còn không biết ngài là một thầy tăng, thì họ cũng xem là một người bình thường và họ sẽ hỏi ngài, ‘Ngài làm gì để kiếm sống?’, khi ấy ngài sẽ đáp lời như thế nào?”

Dalai Lama suy nghĩ một lúc trong im lặng và cuối cùng Người nói. “Không gì cả. Tôi không làm gì cả”.

Không gì cả? Tôi đưa mắt nhìn trừng trừng trong ngạc nhiên, còn Người lẩm bẩm với chính mình. “Nếu bất chợt tôi được người khác hỏi câu hỏi này thì có lẽ đó chính là câu trả lời của tôi. Không gì cả, tôi không làm gì cả”.

Không gì cả? Tôi không tin thế. Rõ ràng Người đã làm việc cật lực như mọi người đã biết, thậm chí là cật lực hơn mức bình thường rất nhiều. Năm ngoái, khi cùng tham gia chuyến rao giảng của Người tại Hoa Kỳ, tôi đã chứng kiến hình ảnh Người làm việc cật lực liên tục trong nhiều vai trò khác nhau: khi là một chính khách, Người đã gặp gỡ Tổng thống George W. Bush, thư ký liên bang Colin Powell, các Thượng nghị sĩ và các thành viên của Quốc hội. Khi là một người giảng dạy, Người được mến mộ vì là một học giả uyên thâm về lĩnh vực triết lý Phật giáo, Người dẫn giải các chi tiết về vô số những chủ đề khác nhau với mức độ sâu sắc lạ thường. Khi là người nhận giải Nobel Hòa bình người liên tục vận động không ngừng nghỉ vì nền hòa bình của thế giới cũng vì nhân quyền, Người đã tham gia hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn những buổi rao giảng trên toàn thế giới. Là một nhà lãnh đạo tôn giáo Người luôn cố gắng tìm cách hòa hợp mọi tôn giáo với nhau, Người đã gặp gỡ tiếp xúc những nhân vật tín ngưỡng cấp cao từ mọi tôn giáo: linh mục, giáo sĩ Do Thái, mục sư, và các thầy giảng đạo Ấn Độ. Người đã gặp gỡ trao đổi cùng các nhà khoa học, các vị học giả, những người chiêu đãi, những người nổi tiếng và cả những người vô danh. Người làm việc từ sáng đến tối, di chuyển từ thành phố này đến thành phố khác. Và những cuộc hẹn gặp gỡ đó thường không phải là do Người chủ động sắp xếp, mà là những lời mời từ những người khác. Và một điều nổi bật hơn hết là – là bất kể thời gian biểu làm việc của mình có chặt chẽ bận rộn cách mấy, Người vẫn dễ dàng hoàn tất hết mọi công việc. Người luôn làm việc trong vui vẻ.

phatphap.wordpress.com & phatphapdaithua.com & phatphapphothong.com

Older Posts »

Chuyên mục